- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quách Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2025/HS-ST Ngày 30 – 5 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Trường Hận
2. Ông Trịnh Văn Mễn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Hà Quốc Huy – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Quách Minh T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 07/10/2004, tại tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú: số A, khóm B, phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Quách Minh Đ, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị Mộng N, sinh năm 1983; vợ Trương Tuyết B, sinh năm 04/4/2007 (chưa đăng ký kết hôn) và có 01 người con; tiền sự: Không; tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2024 đến ngày 04/01/2025 tạm giam đến nay. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua ứng dụng mạng xã hội T1, bị cáo Quách Minh T kết bạn với tài khoản “OG” và biết chủ tài khoản này có bán ma túy loại cần sa nên vào ngày 14/12/2024, bị cáo nhắn tin với tài khoản “OG” đặt mua ma túy loại cần sa khối lượng 100g với giá 5.000.000 đồng, thỏa thuận khi nào bị cáo bán hết số ma túy thì mới trả tiền và hẹn nhận hàng tại bến xe B. Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 16/12/2024, bị cáo đến bến xe B nhận 01 thùng hàng mang về nhà kiểm tra bên trong có chứa ma túy loại cần sa đã được chia sẵn trong bịch nilon, bị cáo mang cất vào phòng ngủ. Sau đó, bị cáo dùng tài khoản tạo trên mạng xã hội T1 để đăng bán ma túy, người sử dụng tài khoản Telegram muốn mua ma túy sẽ nhắn tin đặt mua với bị cáo. Khi có người nhắn tin đặt mua thì bị cáo sẽ lấy bịch ma túy để vào gói thuốc có chữ G và điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Vario biển kiểm soát 94K2-339.92 đến địa điểm đã hẹn trước để gói thuốc có chứa ma túy rồi chụp hình gửi cho người mua, người mua đến lấy ma túy thì để tiền vào trong gói thuốc trả cho bị cáo. Thông qua mạng xã hội Telegram, với cách thức thực hiện như đã nêu trên, bị cáo đã bốn lần thực hiện hành vi bán ma túy, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Khoảng 11 giờ ngày 19/12/2024, có người đặt mua ma túy loại cần sa với giá 130.000 đồng, bị cáo đã mang ma túy để tại bụi cây ven đường tại khu dân cư H, phường A, thành phố B, người mua đến lấy ma túy và để lại số tiền 130.000 đồng trả cho bị cáo.
- Lần thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 21/12/2024, có người đặt mua ma túy loại cần sa với giá 200.000 đồng, bị cáo đã mang ma túy để tại bụi cây ven đường tại khu dân cư H, phường A, thành phố B, người mua đến lấy ma túy và để lại số tiền 200.000 đồng trả cho bị cáo.
- Lần thứ ba: Khoảng 16 giờ ngày 23/12/2024, có người đặt mua ma túy loại cần sa với giá 100.000 đồng, bị cáo đã mang ma túy để vào gốc cây trước tiệm bánh kem Tuyền Tuyền ở khóm G, phường A, thành phố B người mua đến lấy ma túy và để lại số tiền 130.000 đồng trả cho bị cáo.
- Lần thứ tư: Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 26/12/2024, có người đặt mua ma túy loại cần sa với giá 400.000 đồng. Bị cáo lấy bịch ma túy để vào gói thuốc có chữ G cất vào hộc để đồ bên trái của xe mô tô hiệu Honda, loại Vario biển kiểm soát 94K2-339.92 và điều khiển xe mang theo ma túy đến trước tiệm B1 nhưng bị cáo không để ma túy vào gốc cây như lần trước mà ngồi trên xe để đợi người mua. Đến khoảng khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày, thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B bắt quả tang, thu giữ 01 bịch nylon màu trắng kích thước 5cm x 8,2cm, bên trong chứa nhiều lá, hoa, thân cây dạng thảo mộc khô, nghi là ma túy và các tài sản có liên quan.
Thông qua lời khai của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo tại nhà số A, khóm B, phường H, thành phố B, thu giữ tại cái bàn trong phòng ngủ của bị cáo, 01 hộp giấy màu trắng, xanh, đỏ kích thước 15cm x15cmx15cm, bên trong có 01 bịch nylon màu trắng kích thước 15cmx21,7cm có chứa 07 (bảy) bịch nylon màu trắng kích thước 5cmx8cm có chứa thảo mộc khô (thân, hoa, lá) nghi là ma túy, bên trong hộp giấy còn có 68 (sáu mươi tám) bịch nylon màu trắng kích thước 5cmx8cm có chứa thảo mộc khô (thân, hoa, lá) nghi là ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 167/KL-KTHS, ngày 03/01/2025, của Phòng K2 Công an tỉnh B, kết luận: “Thân, lá, hoa khô chứa trong bịch nylon kích thước 05cm x 8,2cm (ký hiệu M1) là ma túy; là thân, lá, hoa của cây cần sa (có chứa thành phần Delta-9-tetrahydrocanabinol), có khối lượng 5,06760 gam; T2, lá, hoa khô chứa trong bịch nylon kích thước 15cm x 21,7cm, bên trong có 07 (bảy) bịch nylon có cùng kích thước 05cm x 08cm (ký hiệu M2) là ma túy; là thân, lá, hoa của cây cần sa (có chứa thành phần Delta-9-tetrahydrocanabinol), có tổng khối lượng 24,18717 gam; T2, lá, hoa khô chứa trong 68 (sáu mươi tám) bịch nylon có cùng kích thước 05cm x 08cm (ký hiệu M3) là ma túy; là thân, lá, hoa của cây cần sa (có chứa thành phần Delta-9-tetrahydrocanabinol), có tổng khối lượng 75,08768 gam”.
Tại Cáo trạng số: 66/CT-VKS-HS ngày 15/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo Quách Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Quách Minh T như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Quách Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Quách Minh T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy là 430.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen, số điện thoại 0913121542 của bị cáo; Tịch thu, tiêu hủy 01 cái bọc loại quai xách màu vàng có chữ “Simplehome”; 01 hộp giấy màu trắng, xanh, đỏ mặt ngoài có dòng chữ “M đưa võng”; 01 cái bọc loại quai xách màu trắng; 01 cái bọc loại quai xách màu đen và số ma tuý còn lại sau giám định 102,61829 gam là thân, lá, hoa của cây cần sa, các vỏ bao gói, 01 thùng giấy màu trắng, đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu để bảo quản.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội và đề xuất của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Với động cơ vụ lợi bất chính, vào khoảng 16 giờ 10 phút ngày 26/12/2024, bị cáo bị bắt quả tang bán trái phép chất ma túy, thu giữ 01 bịch nylon màu trắng kích thước 5cm x 8,2cm, bên trong chứa nhiều lá, hoa, thân cây dạng thảo mộc khô, qua giám định là thân, lá, hoa của cây cần sa (có chứa thành phần Delta-9-tetrahydrocanabinol), có khối lượng 5,06760 gam. Tiến hành khám xét nơi ở của bị cáo tại nhà số A, khóm B, phường H, thành phố B, còn thu giữ ma tuý qua giám định là thân, lá, hoa của cây cần sa (có chứa thành phần Delta-9-tetrahydrocanabinol), có khối lượng 99,27485 gam do bị cáo cất giấu nhằm mục đích để mua bán. Ngoài lần bị bắt quả tang, thì từ ngày 19/12/2024 đến ngày 23/12/2024 bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho người khác thu được tổng cộng số tiền 430.000 đồng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đủ tuổi và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy 04 lần với lỗi cố ý trực tiếp nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng là “Phạm tội từ 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số: 66/CT-VKS-HS ngày 15/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy mà còn gây tác hại cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải xử lý với mức hình phạt tương xứng với mức độ tội phạm đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo nhận thức được sai phạm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền ba lần bị cáo bán ma túy được tổng cộng là 430.000 đồng. Xét thấy, số tiền này trực tiếp liên quan đến tội phạm, do phạm tội mà có nên truy thu số tiền 430.000 đồng này của bị cáo để sung quỹ Nhà nước.
Về vật chứng của vụ án: 01 (một) gói niêm phong, trên gói niêm phong có chữ ký ghi tên Lương Văn K và dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh B cùng dòng chữ “167/GĐMT-2024”. Gói niêm phong còn nguyên vẹn (khối lượng ma túy còn lại sau giám định là 4,75493 gam; 23,50527 gam; 74,35809 gam) là vật cấm tàng trữ nên tịch thu và tiêu hủy; 01 (một) bọc quai xách màu vàng có dòng chữ “Simplehome”, 01 (một) hộp giấy màu trắng xanh đỏ có kích thước 15cm x 15cm x 15cm, mặt ngoài có dòng chữ “MÁY ĐƯA VÕNG”, 01 (một) bọc quai xách màu trắng và 01 (một) bọc quai xách màu đen, tất cả được niêm phong trong thùng giấy, bên ngoài thùng giấy có quấn băng keo trong và một mặt của thùng có dán tờ giấy A4 màu trắng, ký hiệu số 03, có chữ ký ghi tên Nguyễn Trường G, chữ ký ghi tên Bùi Thị K1, chữ ký ghi tên Quách Tấn P, chữ ký ghi tên Trương Tuyết B, chữ ký ghi tên Nguyễn Trung T3, chữ ký ghi tên Phạm Hữu N1, chữ ký dấu tên Trung tá Nguyễn Thanh H và dấu mộc tròn màu đỏ của Công an P1, thành phố B, sim số 0913121542, do không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đen, mặt sau của điện thoại
có
hình
quả
táo
không
nguyên
vẹn,
số
EID: 89049032005008882600050127201409, số IMEI: 352987117516734, số IMEI2: 352987119477224, số MEID: 35298711751673, được niêm phong trong một gói niêm phong số thứ tự 02. Trên gói niêm phong có chữ ký ghi tên Huỳnh Văn C - Điều tra viên; chữ ký ghi tên Quách Minh T, chữ ký ghi tên của người chứng kiến, dấu mộc tròn màu đỏ của cơ quan CSĐT Công an thành phố B và dòng chữ “Một điện thoại di động của Quách Minh T” là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Đối với người thanh niên bán ma tuý cho bị cáo do không rõ nhân thân nên không làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Quách Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Quách Minh T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 26/12/2024.
2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Buộc bị cáo Quách Minh T nộp tiền tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 430.000 đồng (Bốn trăm ba mươi nghìn đồng).
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu và tiêu hủy: khối lượng ma túy còn lại sau giám định là 4,75493 gam; 23,50527 gam; 74,35809 gam; 01 (một) bọc quai xách màu vàng có dòng chữ “Simplehome”, 01 (một) hộp giấy màu trắng xanh đỏ có kích thước 15cm x 15cm x 15cm, mặt ngoài có dòng chữ “MÁY ĐƯA VÕNG”, 01 (một) bọc quai xách màu trắng và 01 (một) bọc quai xách màu đen; sim số 0913121542.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đen, mặt sau của điện thoại có hình quả táo không nguyên vẹn, số EID: 89049032005008882600050127201409, số IMEI: 352987117516734, số IMEI2: 352987119477224, số MEID: 35298711751673.
(Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/5/2025).
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Quách Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND tỉnh Bạc Liêu; - CQCSĐT Công an tỉnh Bạc Liêu; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Bạc Liêu; - VKSND thành phố Bạc Liêu; - Chi cục THADS thành phố Bạc Liêu; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Yến Ly |