- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng Ng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC X - HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2025/HS-ST Ngày 26 - 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NG VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC X - HƯNG YÊN
* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Phụng.
Ông Hoàng Văn Đức.
* Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Long - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực X - Hưng Yên.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực X - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Lương Duy Long - Kiểm sát viên.
Ngày 26/9/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực X - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2025/TLST-HS ngày 12/9/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 46/2025/QĐXXST-HS ngày 15/9/2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Trọng Ng (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 09/02/1993 tại tỉnh Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên); nơi thường trú: Thôn MĐ1, xã HV, tỉnh Hưng Yên (trước đây là: Thôn MĐ1, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: 034093021XXX; con ông Nguyễn Thành N (Nguyễn Văn Nh) và bà Bùi Thị N; chưa có vợ, chưa có con; tiền án: Bản án số 51/2022/HS-ST ngày 07/9/2022, Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực X - Hưng Yên) xử phạt 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 13/6/2022, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (chấp hành xong án phạt tù ngày 13/10/2023, nộp xong án phí hình sự ngày 27/12/2022); tiền sự: Không; nhân thân: Từ tháng 02/2011 đến tháng 8/2012 tham gia Ng vụ quân sự tại Tiểu đoàn X, Trung đoàn XX Bộ Chỉ huy quân sự thành phố Hải Phòng. Bản án số 187/2018/HSST ngày 06/11/2018, Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân khu vực X - Hà Nội) xử phạt 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/8/2018, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (chấp hành xong án phạt tù ngày 02/9/2019, nộp xong án phí ngày 06/11/2018); bị tạm giữ từ ngày 01/8/2025 đến ngày 07/8/2025 chuyển tạm giam cho đến nay tại Phân trại tạm giam Thái Bình thuộc Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Hưng Yên. (có mặt)
- Người chứng kiến:
1. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1982; địa chỉ: Số 96 đường Chu Văn An, Tổ X, phường Trần Hưng Đạo, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt)
2. Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1965; địa chỉ: Ngõ 2 đường Hoàng Công Chất, Tổ X, phường Trần Hưng Đạo, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 01/8/2025, tổ công tác Công an phường Trần Hưng Đạo, tỉnh Hưng Yên làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực cổng chợ BOT thuộc phường Trần Hưng Đạo, tỉnh Hưng Yên phát hiện Nguyễn Trọng Ng có biểu hiệu nghi vấn liên quan đến ma tuý nên đã yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Thanh H và anh Nguyễn Văn P, Ng tự giác lấy từ trong lòng bàn tay trái ra giao nộp cho tổ công tác 02 gói giấy bạc màu trắng, mở ra bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, Ng khai nhận đó là hêrôin, Ng vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng gửi giám định.
Cùng ngày 01/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trọng Ng tại thôn MĐ1, xã HV, tỉnh Hưng Yên. Kết quả khám xét, không thu giữ tài sản, đồ vật gì.
Quá trình điều tra, Nguyễn Trọng Ng khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 01/8/2025, Ng đi xe ôm từ nhà đến khu vực chợ BOT thuộc phường Trần Hưng Đạo, tỉnh Hưng Yên mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, Ng đi bộ vào trong chợ BOT gặp và mua của một người phụ nữ khoảng 20 tuổi, không biết tên, địa chỉ 02 gói ma túy bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng với giá tiền là 400.000 đồng. Mua xong, Ng cầm 02 gói ma túy ở trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi Ng đi đến khu vực cổng chợ BOT thì bị tổ công tác Công an phường Trần Hưng Đạo, tỉnh Hưng Yên phát hiện, bắt quả tang, Ng đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 02 gói ma túy trên.
Tại Kết luận giám định số 713/KL-KTHS ngày 05/8/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng 0,6300 gam (không phẩy sáu nghìn ba trăm gam). Heroine STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ. Hoàn lại 0,5355 gam (không phẩy năm nghìn ba trăm năm mươi năm gam) mẫu vật gửi giám định.
Cáo trạng số 38/CT-VKSKV5 ngày 11/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực X - Hưng Yên truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực X - Hưng Yên để xét xử đối với Nguyễn Trọng Ng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa:
- Nguyễn Trọng Ng khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả;
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 và khoản 5 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ng mức án từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 01/8/2025), phạt bổ sung bị cáo Ng từ 05 triệu đồng đến 07 triệu đồng để sung ngân sách nhà nước. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma tuý hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 713/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Trọng Ng đồng ý với tội danh Viện kiểm sát đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo Nguyễn Trọng Ng nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, Nguyễn Trọng Ng khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến; ngoài ra, còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 01/8/2025 tại khu vực cổng chợ BOT thuộc phường Trần Hưng Đạo, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Trọng Ng có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,6300 gam (không phẩy sáu nghìn ba trăm gam), mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi đó của Nguyễn Trọng Ng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
[3] Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, thì:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
…;
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…”.
[4] Đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, thấy: Hành vi phạm tội của Nguyễn Trọng Ng là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định về quản lý chất gây nghiện của nhà nước. Ma túy không những gây tác hại cho sức khỏe, phá hoại hạnh phúc của bao gia đình mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
[5] Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Nguyễn Trọng Ng có 01 tiền án, do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Nguyễn Trọng Ng đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo có thời gian tham gia Ng vụ quân sự, do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” và “Tình tiết khác” quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Nguyễn Trọng Ng là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân không tốt, bị cáo đã 02 lần bị xét xử về tội phạm liên quan đến ma túy nhưng bị cáo không thực sự ăn năn hối cải, không tiếp thu sự giáo dục của pháp luật, do đó, HĐXX cần áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.
[7] Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy: Bị cáo Nguyễn Trọng Ng là người nghiện ma túy, làm nghề tự do, tuy nhiên, bị cáo đã từng bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên HĐXX cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo với mức 5.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước là phù hợp.
[8] Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ trong vụ án được hoàn trả sau giám định còn lại 0,5355 gam (không phẩy năm nghìn ba trăm năm mươi năm gam) được niêm phong trong 01 phong bì số 713/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Trọng Ng khai mua của một người phụ nữ khoảng 20 tuổi, không biết tên, địa chỉ tại khu vực chợ BOT thuộc phường Trần Hưng Đạo, tỉnh Hưng Yên nên cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý.
[10] Bị cáo Nguyễn Trọng Ng phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 và khoản 5 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Ng 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 01/8/2025). Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Trọng Ng số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử tịch thu tiêu hủy 0,5355 gam (không phẩy năm nghìn ba trăm năm mươi năm gam) ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì số 713/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Hưng Yên. (Vật chứng đã được chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực X - Hưng Yên vào ngày 15/9/2025).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Trọng Ng phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn Trọng Ng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án (ngày 26/9/2025).
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
| - Bị cáo; - Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên; - Viện kiểm sát nhân dân KV5 Hưng Yên; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên; - Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hưng Yên; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hưng Yên; - Phân trại tạm giam Thái Bình/Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Hưng Yên - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Hưng Yên; - Lưu: Hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Dương THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Dương |