- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thúy Lan- Đỗ Đức Phương"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Bùi Thúy L và A Đỗ Đức P.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2025/HNGĐ-ST Ngày 29-4-2025 V/v Ly hôn, trA chấp về nuôi con |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
N, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Đức Khoa
Bà Bùi Thúy Mở
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố N, thành phố H.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố N, thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Trần Huy Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 về việc “ly hôn, trA chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 04 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2025/QĐST- HNGĐ ngày 21/4/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thúy L, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ dân phố 1, phường H, thành phố N, thành phố H; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: A Đỗ Đức P, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ dân phố 1, phường H, thành phố N, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 04/9/2024 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Bùi Thúy L trình bày:
1. Về hôn nhân:
Chị và A Đỗ Đức P kết hôn với nhau vào năm 2003 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 11/4/2003 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố N, thành phố H. Sau khi kết hôn, chị chuyển về gia đình A P sinh sống tại phường H, thành phố N, thành phố H chung sống hạnh phúc đến năm 2010 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách hai bên không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống và lối sống, vợ chồng không hợp nhau và không tin tưởng lẫn nhau về tình cảm, không có tiếng nói chung dẫn đến thường xảy ra cãi nhau, xúc phạm lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình, bạn bè hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Cho nên từ năm 2022 chị sống ly thân với A P cho đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên sâu sắc, trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ nên chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với A P.
2. Về con chung:
Chị L trình bày chị và A P có hai con chung tên là Đỗ Văn K sinh ngày 15/12/2003 và Đỗ Bùi Vân A sinh ngày 19/8/2010. Khi ly hôn, chị trình bày con chung tên là Đỗ Văn K hiện đã đủ 18 tuổi và khỏe mạnh, bình thường nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng đối với cháu, chị đề nghị được trực tiếp nhận nuôi cháu Đỗ Bùi Vân A, về cấp dưỡng nuôi con chung để chị và A P tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung:
Chị L trình bày chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
A Đỗ Đức P là bị đơn trong vụ án, trong quá trình giải quyết vụ án A có những quan điểm như sau mặc dù A không chịu ký nhận sau khi Tòa án tiến hành lấy lời khai đối với A:
A Đỗ Đức P và chị L kết hôn với nhau vào năm 2003 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 11/4/2003 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố N, thành phố H. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau tại Tổ dân phố 1,phường H, thành phố N, thành phố H chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách hai bên không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến thường xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Do mâu thuẫn chị L đã dẫn các con chung đi đâu thì A không được biết vì vợ chồng sống ly thân với nhau từ đó đến nay không còn quan tâm nhau nữa. Nay chị L xin ly hôn, A không có ý kiến gì, để mặc chị L tự giải quyết.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên là Đỗ Văn K sinh ngày 15/12/2003 và Đỗ Bùi Vân A sinh ngày 19/8/2010. Hiện cả hai con chung đang ở với chị L, con chung tên là Đỗ Văn K đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết và A không có ý kiến gì về việc nuôi con chung tên Đỗ Bùi Vân A .
Về tài sản chung: A không có đề nghị gì.
Biên bản xác minh ngày 05/3/2025 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố N, thành phố H thể hiện: Chị Bùi Thúy L và A Đỗ Đức P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố N, thành phố H vào ngày 11/4/2003. Sau khi kết hôn, vợ chồng cùng nhau sinh sống tại Tổ dân phố 1, phường H, thành phố N, thành phố H. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2010 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách vợ chồng không hòa hợp, thiếu tin tưởng lẫn nhau về mặt tình cảm nên vợ chồng xảy ra cãi nhau, xúc phạm nhau. Mâu thuẫn giữa vợ chồng đã được hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn, chị L đã dẫn các con chung về nhà bố mẹ đẻ đã sống ly thân từ năm 2022, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Chị L và A P có hai con chung tên là Đỗ Văn K sinh ngày 15/12/2003 và Đỗ Bùi Vân A sinh ngày 19/8/2010, trường hợp vợ chồng ly hôn đề nghị Tòa án căn cứ vào pháp luật và nguyện vọng của các bên để giải quyết. Về tài sản chung của vợ chồng: Đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng, nguyên đơn chấp hành pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Bùi Thúy L và A Đỗ Đức P; về con chung: Giao cho chị Bùi Thúy L trực tiếp nuôi con chung tên là Đỗ Bùi Vân A sinh ngày 19/8/2010 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; về cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết; nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả trA tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án trA chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố N, thành phố H theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn là chị Bùi Thúy L vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thúy L và A Đỗ Đức P đã được xác lập là hợp pháp (Giấy chứng nhận kết hôn số 038 ngày 11/4/2003 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố N, thành phố H). Căn cứ vào lời khai của đương sự và tài liệu điều tra xác minh tại địa P thể hiện trong quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, từ năm 2022 mâu thuẫn trở nên sâu sắc, trầm trọng không thể hàn gắn tình cảm được, do mâu thuẫn vợ chồng nên chị L và A P sống ly thân từ đó cho đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng có tồn tại làm cho hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, khả năng đoàn tụ không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị L yêu cầu ly hôn, căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho ly hôn giữa chị L và A P.
. Về con chung: Chị L và A P có hai con chung tên là Đỗ Văn K sinh ngày 15/12/2003 và Đỗ Bùi Vân A sinh ngày 19/8/2010. Khi ly hôn, chị L đề nghị được trực tiếp nuôi con chung tên là Đỗ Bùi Vân A sinh ngày 19/8/2010. Việc giao con chung cho ai nuôi cần phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung. Xét thấy, chị L đang trực tiếp nuôi con chung Đỗ Bùi Vân A vẫn ổn định, con chung phát triển bình thường và được đảm bảo tốt. Con chung tên là Đỗ Bùi Vân A có nguyện vọng được ở với chị L khi ly hôn. Do vậy, cần giao con chung Đỗ Bùi Vân A cho chị L tiếp tục trực tiếp nuôi là phù hợp với các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết và A P không có trình bày quan điểm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu không yêu cầu Tòa án giải quyết và A P không có trình bày quan điểm, ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này.
. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
. Về quyền kháng cáo: Chị L và A P có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Bùi Thúy L và A Đỗ Đức P.
2. Về con chung: Giao cho chị Bùi Thúy L trực tiếp nuôi con chung tên là Đỗ Bùi Vân A sinh ngày 19/8/2010 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Bùi Thúy L không yêu cầu Tòa án giải quyết và A Đỗ Đức P không có trình bày quan điểm gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về tài sản chung: Chị Bùi Thúy L không yêu cầu Tòa án giải quyết và A Đỗ Đức P không có trình bày quan điểm gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Chị Bùi Thúy L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010385 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N, thành phố H. Chị Bùi Thúy L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
7. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND thành phố H; - VKSND thành phố H; - VKSND thành phố N; - Chi cục THADS thành phố N; - UBND phường H, N, (Giấy CNKH số 038 ngày 11/4/2003); - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Vân |