- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn bà M tranh chấp yêu cầu ly hôn với bị đơn ông M"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Xuân M.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2025/HNGĐ-ST Ngày 28-4-2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Kiên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hùng Bích; ông Trần Thanh Việt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Minh C - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 118/2025/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 150/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 04 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Xuân M, sinh năm 1982;
Cư trú: Số A L, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Trương Thanh M1, sinh năm 1982;
Cư trú: Số A L, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Xuân M trình bày:
- Về hôn nhân: Bà Trần Thị Xuân M và ông Trương Thanh M1 do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào năm 2008 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L vào ngày 01/8/2008. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc thì cả hai xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt. Vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ năm 2023, ông M1 cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay nhận thấy tình cảm đã không còn nên bà M yêu cầu được ly hôn với ông M1.
- Về con chung: Bà M và ông M1 có 01 con chung tên Trương Gia K, sinh ngày 24/5/2011 hiện do bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà M yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông M1 cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Trương Thanh M1 đều vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà M. Tại phiên tòa, ông M1 tiếp tục vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn nên chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Xuân M. Về con chung, giao 01 (một) con chung tên Trương Gia K, sinh ngày 24/5/2011 cho bà M tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Bà Trần Thị Xuân M khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con với ông Trương Thanh M1. Ông M1 cư trú tại số A L, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Trương Thanh M1 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, nguyên đơn bà Trần Thị Xuân M có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. [2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông M1 tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 130, ngày 01/8/2008, nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình giải quyết, bà M xác định không còn tình cảm với ông M1, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng và không thể hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn. Ông M1 vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà M về tranh chấp ly hôn; không cung cấp, giao nộp chứng cứ. Tại phiên tòa, ông M1 tiếp tục vắng mặt không lý do, thể hiện ông M1 không có thiện chí hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ tình trạng hôn nhân của bà M và ông M1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì sẽ không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M.
Về con chung: Bà M và ông M1 có 01 (một) con chung tên Trương Gia K, sinh ngày 24/5/2011. Hiện con chung đang do bà M nuôi dưỡng và chăm sóc. Tại Biên bản ghi ý kiến con chung ngày 19/3/2025, cháu Trương Gia K có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ là bà Trần Thị Xuân M. Do đó, để ổn định cuộc sống và đảm bảo cho cháu K phát triển tốt về mọi mặt khi bà M và ông M1 ly hôn, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu K cho bà M tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.
Bà M cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông M1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trương Gia K. Trường hợp ông M1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bà M có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông M1.
Về cấp dưỡng nuôi con, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Tuy nhiên, bà M là người được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau ly hôn, không có yêu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích khác của con, cơ quan có thẩm quyền; Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông M1 không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết. Đương sự có tranh chấp, thì khởi kiện vụ kiện khác theo quy định.
Về án phí: Bà Trần Thị Xuân M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Xuân M.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Xuân M được ly hôn ông Trương Thanh M1.
- Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Trương Gia K, sinh ngày 24/5/2011. Bà M được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
Bà M cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông M1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trương Gia K. Trường hợp ông M1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bà M có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông M1.
Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích khác của con, cơ quan có thẩm quyền; Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Trần Thị Xuân M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002302, ngày 18/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà M đã nộp đủ tiền án phí.
Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Xuân M, ông Trương Thanh M1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND TPLX; - THADS TPLX; - UBND phường Mỹ Bình; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Kiên |