- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Minh D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2025/DS-ST Ngày 22/8/2025 V/v: “Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hoá” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Kiểu
Ông Phạm Văn Tài
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - An Giang: không tham gia phiên tòa.
Ngày 22 tháng 8 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 183/2025/TLST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đoàn Minh D, sinh năm 1987
Số cccd: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: Ấp T, xã H, tỉnh A.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Bùi Thanh H, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp T, xã H, tỉnh A.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1972
Bà Bùi Thị T, sinh năm 1977. Cccd số: xxxxxxxxxxxx
Cùng địa chỉ: Ấp L, xã H, tỉnh A.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn ông Đoàn Minh D trình bày như sau:
Từ năm 2014 vợ chồng ông Nguyễn Văn K, bà Bùi Thị T có đến mua vật tư nông nghiệp của ông nhiều lần. Đến ngày 17/10/2016 thì hai bên chốt lại số nợ là 138.771.000 đồng. Sau đó, vợ chồng ông K, bà T có trả nhiều lần đến ngày 20/10/2018 còn nợ lại 118.771.000₫ (một trăm mười tám triệu bảy trăm bảu mươi mốt nghìn đồng). Từ đó đến nay ông có nhiều lần liên hệ và tìm đến nhà đòi nợ nhưng vợ chồng ông K, bà T không trả thêm được đồng nào.
Nay ông D yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Văn K, bà Bùi Thị T có trách nhiệm liên đới trả cho ông số tiền gốc là 118.771.000₫ và số tiền lãi phát sinh do chận thanh toán là 10%/năm của số tiền 118.771.000₫ tạm tính từ ngày 01/01/2019 đến ngày 01/01/2025 là: 118.771.000đ x 10%/năm x 6 năm = 71.262.000₫. Tổng cộng gốc, lãi: 118.771.000₫ + 71.262.000₫ = 190.033.600₫ (một trăm chín mươi triệu không trăm ba mươi ba nghìn sáu trăm đồng).
* Bị đơn bà Bùi Thị T trình bày:
Bà thừa nhận vợ chồng bà có thiếu tiền phân của ông D số tiền 118.771.000 đồng, từ năm 2019 đến nay không trả được đồng nào.
Do làm ăn bị lỗ lã và vợ chồng bị bệnh nên giờ ông bà không có khả năng trả 1 lần cho ông D. Nay bà xin ông D tạo điều kiện cho vợ chồng bà trả dần 3 tháng là 4.000.000 đồng và xin bỏ tiền lãi vì gia đình bà không có khả năng trả lãi nữa.
* Tại phiên tòa:
Ông Bùi Thanh H – người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Nguyễn Văn K và bà Bùi Thị T đã được triệu tập 02 lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, HĐXX xét thấy:
Từ năm 2014-2016, vợ chồng ông D Văn Kiệt và bà Bùi Thị T có nhiều lần mua vật tư nông nghiệp của ông Đoàn Minh D. Vợ chồng ông K, bà T có trả nhiều lần đến ngày 20/10/2018 còn lại 118.771.000₫. Từ khi xác nhận nợ, ông K, bà T không trả cho ông D thêm được lần nào. Tại phiên hoà giải ngày 01/8/2025, bà T thừa nhận vợ chồng bà còn nợ ông D số tiền phân bón 118.771.000 đồng nên đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Như vậy việc ông K, bà T mua phân nhưng không thanh toán hết tiền phân cho ông D là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 440 Bộ luật Dân sự, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp cho ông D nên yêu cầu khởi kiện của Dương có căn cứ để HĐXX chấp nhận.
Xét về lãi suất: Do ông K, bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 3 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Ông D yêu cầu ông K, bà T phải chịu lãi suất chậm trả 10%/năm là phù hợp với quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận. Cụ thể lãi suất là: 118.771.000đ x 10%/năm x 6 năm = 71.262.000 đồng.
Tổng cộng gốc và lãi là: 118.771.000₫ + 71.262.000₫ = 190.033.000 đồng.
Từ những cơ sở trên, sau khi thảo luận nghị án, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
. Về án phí dân s sơ thẩm:
- Bị đơn ông K, bà T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật;
- Ông Đoàn Minh D được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 430, 440, 357, 468 Bộ luật Dân sự 2015.
- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Minh D.
Buộc ông Nguyễn Văn K và bà Bùi Thị T có trách nhiệm liên đới trả cho ông Đoàn Minh D số tiền gốc và lãi là 190.033.000 đồng (Một trăm chín mươi triệu, không trăm ba mươi ba nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp khoản tiền trên, người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được xác định theo khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn ông Nguyễn Văn K và bà Bùi Thị T phải chịu án phí DSST có giá ngạch trên số tiền buộc trả là 9.502.000 đồng (Chín triệu, năm trăm linh hai nghìn đồng).
- Ông Đoàn Minh D được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp số tiền 4.750.000 đồng (Bốn triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0015959 ngày 18/6/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 4 - An Giang).
3. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 4; - Phòng THADS khu vực 4; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cúc |