vanban.org

Bản án 66/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tuyên án 18/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Pờ Khừ P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Pờ Khừ P. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 12 (mười hai) mảnh nilon màu xa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Pờ Khừ P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Pờ Khừ P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HSST
Ngày: 18/06/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, ông: Lò Xuân Hải.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Đức Thật.

Ông: Lý Ngọc Sáng.

- Thư ký phiên tòa, bà: Dương Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T tham gia phiên tòa, ông: Võ Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2024/TL-ST-HS, ngày 07 tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 06 năm 2024, đối với bị cáo.

- Pờ Khừ P: Giới tính: Nữ; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/01/1984; tại: Huyện Mường T, tỉnh Lai C; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Lạ P, xã Tá B, huyện Mường T, tỉnh Lai C; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 00/12; dân tộc: La Hủ; tôn giáo: Không; đảng, đoàn: Không; con ông Pờ Phí P ( đã chết) và con bà Lỳ Á X (đã chết); chồng Lỳ Xú P, sinh năm 1973; con: Có 06 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân chưa bị xử lý; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/01/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C - Có mặt.

- Người phiên dịch tiếng nói dân tộc La Hủ cho bị cáo Pờ Khừ P, ông: Lý Pó Xá, sinh năm 2000 - Trú tại: Khu phố 08, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 09 giờ sáng, ngày 21/01/2024, Pờ Khừ P, một mình đi bộ từ nhà ở bản Lạ P đến bản Tá B , xã Tá B, huyện Mường T, tỉnh Lai C, để tìm mua Heroine đem về sử dụng (chữa đau bụng). Khi đến bản Tá B. P gặp một người đàn ông lạ mặt, qua trao đổi, P mua được của người đàn ông này 10 gói Heroine ( Bên ngoài mỗi gói đều được gói bằng một mảnh nilon màu xanh và gói chung lại thành một gói bằng một mảnh nilon màu xanh), với giá 500.000 đồng, sau khi nhận tiền thì người đàn ông này đã đưa cho P thêm 01 gói Heroine ( Bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu xanh).Sau đó P gói chung với 10 gói Heroine ban đầu thành một gói và cất giấu vào trong cạp quần phía trước bên trái mà P đang mặc trên người rồi đi bộ quay về nhà. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi Pờ Khừ P đi về đến đoạn đường gần trung tâm xã Tá B, huyện Mường T, tỉnh Lai C thì bị tổ công tác Đồn biên Phòng Ka L đang làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật là 11 gói Heroine mà P đang cất giấu trên người. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại kết luận giám định tư pháp số 18/KLGĐ-CA, ngày 22/01/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C, đã kết luận: 11 gói chất bột khô, màu trắng vật chứng thu giữ của Pờ Khừ P có tổng khối lượng là 0,66 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 188/GĐ-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai C, kết luận: 11 Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Pờ Khừ P gửi đến giám định đều là ma túy, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 30/CT-VKS-MT ngày 06 tháng 05 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T đã truy tố Pờ Khừ P về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:

- Trách nhiệm hình sự: Đối với Pờ Khừ P về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Pờ Khừ P từ: 01 năm 04 tháng đến 02 năm tù, về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do điều kiện kinh tế của bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 12 (mười hai) mảnh nilon màu xanh; 01 (một) phong bì thư màu trắng do bưu điện phát hành, xung quanh có viền xanh, đỏ, đã bị cắt một đầu là vật chứng thu giữ còn lại của Pờ Khừ P.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Pờ Khừ P.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 13 giờ, ngày 21/01/2024 tại khu vực bản Tá B, xã Tá B, huyện Mường T, tỉnh Lai C. Pờ Khừ P đang tàng trữ trái phép 0,66 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Ka L, huyện Mường T, tỉnh Lai C phát hiện, bắt quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T đã truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội. Bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Pờ Khừ P luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo. Nhận thấy: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số La Hủ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản Lạ P, xã Tá B, huyện Mường T, tỉnh Lai C, là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Pờ Khừ P không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về nhân thân: Bị cáo Pờ Khừ P có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ không được đi học, lớn lên lấy chồng và ở nhà tham gia lao động sản xuất tại địa phương, nhận thức pháp luật hạn chế, là người sử dụng chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì muốn có chất ma túy để chữa bệnh đau bụng của bản thân nên đã cố ý phạm tội.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bố, mẹ đã chết hết, bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số La Hủ, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình bị cáo là hộ nghèo năm 2024 ở bản Lạ P, xã Tá B, huyện Mường T, tỉnh Lai C là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 12 (mười hai) mảnh nilon màu xanh; 01 (một) phong bì thư màu trắng do bưu điện phát hành, xung quanh có viền xanh, đỏ, đã bị cắt một đầu là vật chứng không còn giá trị, thu giữ còn lại của Pờ Khừ P.

- Đối với 0,66 gam Heroine. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường T đã giử đi giám định hết, không hoàn lại mẫu vật nên không đề cập xử lý.

. Về án phí hình sự sơ thẩm, xét thấy: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số La Hủ, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình bị cáo là hộ nghèo năm 2024 ở bản Lạ P, xã Tá B, huyện Mường T, tỉnh Lai C là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo Pờ Khừ P. [9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Pờ Khừ P đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự; do vậy ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về: Tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận. [10]. Đối với người đàn ông lạ mặt đã bán Heroine với giá 500.000 đồng cho bị cáo Pờ Khừ P. Trong qúa trình điều tra không xác định được lai lịch của người đàn ông này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [11]. Trong quá trình điều tra, truy tố việc bị cáo Pờ Khừ P và chồng là Lỳ Xú P có con thứ nhất và con thứ hai khi bị cáo mới chỉ 14 tuổi và 16 tuổi là có dấu hiệu của tội phạm hiếp dâm người đưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 142 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, do hiện tại đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C không đề cập xem xét xử lý trong vụ án này. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo: Pờ Khừ P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Pờ Khừ P: 01 năm 04 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Pờ Khừ P bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 21/01/2024.

- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Pờ Khừ P.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 12 (mười hai) mảnh nilon màu xanh; 01 (một) phong bì thư màu trắng do bưu điện phát hành, xung quanh có viền xanh, đỏ, đã bị cắt một đầu là vật chứng không còn giá trị thu giữ còn lại của bị cáo Pờ Khừ P.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Pờ Khừ P.

- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ