vanban.org

Bản án 66/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 13/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Kiến Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Quàng Kiến Q 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (31/01/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quyết định số 66/2024/HS-ST ngày 13/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quàng Kiến Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SL
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS-ST
Ngày 13 – 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SL, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Thị Mai Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thanh Thúy

Ông Quàng Văn Ngoan

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Ngọc Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố SL, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Long Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố SL, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Quàng Kiến Q (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 03 tháng 4 năm 2002 tại thành phố SL, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản N, xã C, thành phố SL, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Quàng Văn T (sinh năm 1981) và con bà Vì Thị P (sinh năm 1982); bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 20 phút ngày 30/01/2024, tổ công tác Công an xã C, Công an thành phố SL làm nhiệm vụ tại khu vực bản H, xã C, thành phố SL đã phát hiện bắt quả tang Quàng Kiến Q, sinh năm 2002, đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc có một mặt màu vàng, bên trong có chứa 01 gói nilon màu trắng và 01 gói nilon màu hồng, bên trong gói nilon màu trắng có chứa cục bột màu trắng và bên trong gói nilon màu hồng có chứa 02 viên nén đồng dạng màu hồng, Q khai là ma túy Heroine và Hồng phiến, cất giữ để sử dụng.

Ngày 31/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố SL tiến hành bóc mở niêm phong, tách bì, cân tịnh và xác định khối lượng vật chứng khi thu giữ Quàng Kiến Q. Kết quả:

- Cục bột màu trắng có khối lượng là 0,01gam, lấy toàn bộ 0,01gam làm mẫu giám định ký hiệu Q1.

- 02 viên nén đồng dạng màu hồng có khối lượng 0,19gam, lấy 01 viên có khối lượng 0,10gam làm mẫu giám định ký hiệu là Q3. Còn lại 01 viên có khối lượng 0,09 gam làm mẫu lưu kho vật chứng ký hiệu là Q2.

Tại Kết luận giám định số: 472/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu Q1 là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,01 gam. Mẫu gửi ký hiệu Q3 là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,01 gam; loại Heroine và 0,19 gam, loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Quàng Kiến Q khai nhận: Do nghiện ma túy, khoảng 21 giờ 00 phút ngày 30/01/2024, Quàng Kiến Q đi bộ từ tiểu khu 1, xã CN, thành phố SL đến khu vực tổ 14, phường Q, thành phố SL, tỉnh Sơn La rồi đi xe taxi lên khu vực xã CP, huyện TC, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực bản D, xã CP, huyện TC, Q xuống xe taxi và bảo lái xe chờ mình quay lại, rồi một mình đi bộ vào bản D theo đường dân sinh, khi đi đến cuối đường thì Q gặp và hỏi mua được của một người nam giới (Q không biết tên, tuổi, địa chỉ) một gói giấy bạc có một mặt màu vàng, bên trong có chứa 01 túi nilon màu trắng, trong túi có ma túy Heroine và 01 túi nilon màu hồng, trong túi có chứa 02 viên ma túy Hồng phiến với giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Sau khi mua, Q cầm gói ma túy vừa mua được cất vào túi áo ngực bên trái của chiếc áo khoác da đang mặc trên người rồi quay trở lại xe taxi và đi về hướng thành phố SL. Khi đi đến địa phận bản H, xã C, thành phố SL, do lo sợ không đủ tiền trả taxi nên Q xuống xe và đi bộ thêm được khoảng 500m thì bị Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Thực hiện điều tra xác minh đối với nam thanh niên bán trái phép chất ma túy cho Quàng Kiến Q nhưng không có cơ sở để mở rộng điều tra vụ án.

Quá trình đi xe taxi từ thành phố SL lên bản D, xã CP, huyện TC và quay về, Q không tiết lộ cho lái xe taxi biết việc mình đi mua ma túy để sử dụng.

Tại bản cáo trạng số: 118/CT-VKS ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Quàng Kiến Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL giữ quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Kiến Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Quàng Kiến Q từ 13 (mười ba) đến 17 (mười bảy) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc một mặt có màu vàng, một mặt màu trắng; 01 túi nilon màu trắng; 01 túi nilong màu hồng và 0,09 (không phẩy không chín) gam Methamphetamine ký hiệu là Q2.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Quàng Kiến Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến gì đối đáp với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố SL, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 30/01/2024, Quàng Kiến Q đã có hành vi cất giữ trái phép 0,19 gam Methamphetamine và 0,01 gam Heroine, hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng: Lời khai nhận tội của bị cáo; biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 23 giờ 45 phút ngày 31/01/2024 tại bản H, xã C, thành phố SL, tỉnh Sơn La đối với Quàng Kiến Q cùng vật chứng thu giữ là 01 gói giấy bạc có một mặt màu vàng, bên trong có chứa 01 gói nilon màu trắng và 01 gói nilon màu hồng, bên trong gói nilon màu trắng có chứa cục bột màu trắng và bên trong gói nilon màu hồng có chứa 02 viên nén đồng dạng màu hồng, Q khai là ma túy Heroine và Hồng phiến; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 472/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của ông Quàng Văn D, sinh năm 1982, trú tại bản Hôm, xã C, thành phố SL, tỉnh Sơn La, là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang.

Từ các căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Quàng Kiến Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo Quàng Kiến Q phạm tội tàng trữ trái phép 2 chất ma túy là 0,19 gam Methamphetamine và 0,01 gam Heroine, căn cứ theo quy định tại Điều 4 của Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự thì hai chất ma túy thu giữ của Quàng Kiến Q được tính tổng là 0,20 gam, và vi phạm vào tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.

Hành vi vi phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bản thân bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

Về nguồn gốc số ma túy: Đối với nguồn gốc 0,19 gam Methamphetamine và 0,01 gam Heroine: Bị cáo khai ngày 30/01/2024, bị cáo mua được của một người nam giới, không biết tên tuổi, địa chỉ tại khu vực bản D, xã CP, huyện TC, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo, cơ quan chức năng đã tiến hành điều tra xác minh, nhưng không thu thập được tài liệu chứng cứ gì, do đó buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự toàn bộ đối với số ma túy bị thu giữ.

Vật chứng của vụ án: Đối với 0,09 (không phẩy không chín) gam Methamphetamine ký hiệu là Q2 hiện đang lưu kho vật chứng, là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh giấy (loại giấy bạc) có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng là vật chứng không có giá trị sử dụng, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Kiến Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Quàng Kiến Q 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (31/01/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy (loại giấy bạc) có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng; 0,09 (không phẩy không chín) gam Methamphetamine ký hiệu là Q2 (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 042453 của Công an thành phố SL).

(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/4/2024 giữa Công an thành phố SL và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố SL, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Quàng Kiến Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 13/5/2024).

Cỡ chữ