vanban.org

Bản án 66/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 05/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Nguyễn Minh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Huỳnh Nguyễn Minh L 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2022. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Nguyễn Minh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 66/2023/HSST
Ngày: 05/4/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Minh Tuấn và ông Vương Đình Quang

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Kim Yến

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Hương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05/4/2023, tại phòng xét xử trực tuyến, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; TAND quận N mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 64/2023/TLST-HS ngày 22/3/2023 đối với bị cáo:

Huỳnh Nguyễn Minh L, sinh năm 1989; Giới tính: Nam

Nơi ĐKNKTT: phường P, thành phố B, tỉnh B.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do

Con ông Huỳnh Ngọc N và bà Nguyễn Thị T

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 08/12/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1- Công an thành phố Hà Nội. Số giam: 5736B2/17 – Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo bị VKSND quận N, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng 21 giờ ngày 07/12/2022, L đến quán Bar 1900 tại số 8b, phố Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội để chơi và nghe nhạc. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, L đã đi ra cửa quán bar để tìm mua ma túy. Tại đây, L gặp 01 nam thanh niên (tự giới thiệu là Tuấn, có miêu tả nhận dạng cao khoảng 1m62, dáng người thấp gầy, mặc áo sơ mi đen, đeo khẩu trang), qua trao đổi, Tuấn bảo với L là có ma túy bán nên L đã mua 02 viên ma túy “kẹo” và 01 chỉ ma túy “ke” của Tuấn với giá là 7.500.000đ. Sau khi nhận từ Tuấn 01 túi nilon bên trong có 02 viên ma túy “kẹo” và 01 gói nilon chứa ma túy “ke”, L cất số ma túy trên vào túi áo phía trước bên trái rồi đi về phòng trọ) tại số 2, đường M, phường M, quận N, Hà Nội của anh Bùi Minh Th. Khi về đến phòng trọ, L lấy số ma tuy “ke” chia làm 02 phần rồi cho vào 02 túi nilon, trong đó: 01 túi L sử dụng luôn, 01 túi còn lại L cho vào 01 hộp nhựa cất cùng 02 viên viên ma túy “kẹo” để sử dụng sau. Trong quá trình sử dụng ma túy “ke”, L vào mạng xã hội Facebook nói chuyện, nhắn tin với 01 đối tượng nữ sử dụng tài khoản tên “Trâm Ngọc Anh”. Quá trình nói chuyện, L và người này rủ nhau cùng sử dụng ma túy, sau đó thống nhất L là người chuẩn bị ma túy và mang đến nhà của “Trâm Ngọc Anh” tại khu vực ngõ 160 đường T, phường T, quận N để sử dụng. Sau đó, L lấy 01 túi nilon chứa số ma túy “ke” còn lại cho vào túi quần phía sau bên phải và lấy 01 hộp nhựa chứa ma túy nêu trên vào túi quần phía trước bên trái, rồi đi đến điểm hẹn. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 08/12/2022, L đến khu vực ngõ 160 đường T, phường T, quận N, đang đi bộ vào trong chờ đối tượng “Trâm Ngọc Anh” thì bị tổ công tác Công an phường Tây Mỗ kiểm tra, phát hiện số ma túy đang cất giấu trong người và đưa về trụ sở để làm việc.

Vật chứng thu giữ:

+ 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, gắn sim: 0794.092.998, số máy MN8G21LIA, số seri F52ZPG3MHG6W;

+ 01 hộp nhựa cứng màu trắng, nắp màu đen, kích thước 5x1x1 (cm), bên trong có: 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng và 02 viên nén màu xám, nghi là ma túy;

+ 01 túi nilong màu trắng, kích thước 4x4 (cm) bên trong có chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy;

Tại Bản kết luận giám định số 8340/KL- KTHS ngày 16/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:

+ 02 viên nén màu xám đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 0,813 gam;

+ Chất tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 0,985 + 0,068 = 1,053 gam;

Tại bản cáo trạng số 64/CT-VKSNTL ngày 21/3/2023 của VKSND quận N, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.

Kết thúc phần tranh tụng; Tại phần tranh luận, đại diện VKS đọc bản luận tội đối với bị cáo. Nội dung bản luận tội đã phân tích nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo; Các tình tiết giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 21 đến 24 tháng tù. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng số 64 ngày 21/3/2023 của VKSND quận N đã truy tố bị cáo. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố và lời luận tội của đại diện VKS đối với bị cáo tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện VKS. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, HĐXX nhận định: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 08/12/2022, tại khu vực ngõ 160 đường T, phường T, quận N, Hà Nội, Huỳnh Nguyễn Minh L có hành vi tàng trữ trái phép 1,053 gam ma túy Ketamine và 0,813 gam ma túy loại MDMA để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Tây Mỗ, quận N bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.

Xét cáo trạng truy tố và lời trình bày luận tội của đại diện VKS tại phiên tòa tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được chấp nhận.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh một số loại tội phạm, gây mất trật tự trị an, làm băng hoại đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân trên địa bàn nơi xảy ra tội phạm.

Về nhân thân của bị cáo: Tính đến ngày phạm tội, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, nhưng phạm tội nghiêm trọng.

Xét cần xử phạt bị cáo một mức án tương ứng với tính chất mức độ hành vi của bị cáo đã gây ra. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, hiện bị cáo không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung “Phạt tiền” cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tế của bị cáo.

Liên quan trong vụ án này còn có đối tượng tên Tuấn bán ma túy cho L: Cơ quan Cảnh sát điều tra quận N đã dẫn giải L và tiến hành xác định địa điểm mua bán ma túy tại trước cửa quán bar 1900 (địa chỉ: số 8b, Tạ Hiện, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội). Phối hợp với Công an phường Hàng Buồm tiến hành rà soát đối tượng nhưng không phát hiện đối tượng nào tên Tuấn có đặc điểm như L mô tả, rà soát nhân chứng và camera nhưng không thu thập được thông tin, tài liệu gì. Do L không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ, không có quan hệ gì với đối tượng này và nếu gặp lại, L không nhận ra được. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ và xử lý.

Đối với anh Bùi Minh Th cho L ở nhờ phòng trọ tại số 2 ngách 136/32 đường Mễ Trì Thượng, phường Mễ Trì, N, Hà Nội, do anh Th không biết về việc L sử dụng ma túy ở phòng trọ của mình nên không xem xét xử lý.

Đối với đối tượng sử dụng tài khoản Facebook “Tram Ngoc Anh” rủ L đến sử dụng ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra quận N đã tiến hành rà soát tại khu vực ngõ 160 đường Tây Mỗ, phường Tây Mỗ, N và các khu vực xung quanh nhưng không phát hiện đối tượng nào sử dụng tài khoản Facebook như trên. L chưa gặp đối tượng này lần nào và không biết tên, tuổi, địa chỉ. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ và xử lý.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Nguyễn Minh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 46, 47 BLHS; Điều 106, 136, 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Huỳnh Nguyễn Minh L 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2022.

Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen lắp 01 sim (điện thoại không lên nguồn). Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, đã được niêm phong có chữ ký của Huỳnh Nguyễn Minh L, cán bộ Công an và giám định viên. (Đặc điểm vật chứng đúng như biên bản giao nhận vật chứng số 135 ngày 23/3/2023 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận N).

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ