- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phản Mô C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Phản Mô C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2023/HSST Ngày: 23/05/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Xuân Hải.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông: Lù Thanh Xá.
Ông: Lý Ngọc Sáng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 05 năm 2023, tại nhà văn hóa Ủy ban nhân dân xã P, huyện Mường T, tỉnh Lai C, xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2023/TL-ST-HS, ngày 24 tháng 03 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2023/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 05 năm 2023, đối với bị cáo.
- Phản Mô C: Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1981; nơi sinh: Huyện Mường T, tỉnh Lai C; Nơi đăng ký HKTT: Bản Mô C, xã P, huyện Mường T, tỉnh Lai C; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: La Hủ; Tôn giáo: Không; Đảng, đoàn: Không; Con ông Phản Phu C ( đã chết) và con bà Thàng Gạ L (đã chết); Vợ, Vàng Gạ N (đã chết); Con, có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân đã bị xử lý, ngày 29/12/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội mới ngày 26/12/2022 chưa bị xét xử nên không được coi là có án tích; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2022 tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C cho đến nay - Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Phản Mô C: Bà Nông Thị Minh H - trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai C - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ ngày 26/12/2022, Phản Mô C, đi từ bản Mô C đến bản Pha B, xã P, huyện Mường T, tỉnh Lai C, để tìm mua Heroine đem về sử dụng. Khi đến đầu bản Pha B, C gặp một người phụ nữ lạ mặt, qua trao đổi, C mua được của người phụ nữ này 01 (một) gói Heroine bên ngoài được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng với giá 400.000 đồng. C cất giấu gói Heroine vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người rồi đi bộ quay về nhà. Đến 13 giờ 20 phút cùng ngày khi C đi bộ đến khu vực bản Thăm P, xã P thì bị tổ công tác Công an xã P phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác lập biên bản thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại kết luận giám định tư pháp số 08/KLGĐ, ngày 26/12/2022 của người giám định tư pháp thuộc Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C kết luận: 01 gói chất bột khô, màu trắng vật chứng thu giữ của Phản Mô C có khối lượng là 0,66 gam.
Tại kết luận giám định số: 42/GĐ-KTHS ngày 28/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai C kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Phản Mô C gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số: 28/CT-VKS-MT ngày 24 tháng 03 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T truy tố Phản Mô C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:
- Trách nhiệm hình sự: Đối với Phản Mô C về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phản Mô C từ: 01 năm 02 tháng đến 01 năm 08 tháng tù, về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về tổng hợp hình phạt: Tại bản án số: 32/2022/HS-ST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, bị cáo Phản Mô C bị xử phạt 09 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 26/12/2022. Căn cứ Điều 55; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt của bản án số: 32/2022/HS-ST ngày 29/12/2022 đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do điều kiện kinh tế của bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mảnh nilon màu hồng vật chứng thu giữ còn lại của Phản Mô C.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích tính chất, hành vi, mức độ phạm tội, nhân thân của các bị cáo, người bào chữa đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 13 giờ 20 phút ngày 26/12/2022 tại bản Thăm P, xã P, huyện Mường T, tỉnh Lai C. Phản Mô C đang tàng trữ trái phép 01 (một) gói Heroine có khối lượng 0,66 gam để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã P, huyện Mường T phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T đã truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Bị cáo Phản Mô C luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, sinh sống ở xã P, huyện Mường T là biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.
. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phản Mô C không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về nhân thân bị cáo Phản Mô C có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ được đi học đến lớp 03/12 thì bỏ học, lớn lên ở nhà tham gia lao động sản xuất tại địa phương, nhận thức pháp luật hạn chế, là người sử dụng chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân nên đã cố ý phạm tội. Nhân thân đã bị xử lý, ngày 29/12/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội mới ngày 26/12/2022 chưa bị xét xử nên không được coi là có án tích.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, thường xuyên sử dụng chất ma túy, nghề nghiệp trồng trọt, bố, mẹ và vợ đã chết hết, bản thân một mình nuôi 02 con nhỏ, sinh sống ở xã P, huyện Mường T là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mảnh nilon màu hồng là vật chứng thu giữ còn lại sau khi xác định khối lượng chất ma túy không còn giá trị sử dụng của Phản Mô C. [8]. Về án phí hình sự sơ thẩm, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, thường xuyên sử dụng chất ma túy, nghề nghiệp trồng trọt, bố, mẹ và vợ đã chết hết, bản thân một mình nuôi 02 con nhỏ, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở xã P là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo. [9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Phản Mô C đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; do vậy ý kiến của Kiểm sát viên và của người bào chữa tại phiên tòa về: Tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Điều 52 Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận. [10]. Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, xét thấy: Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Về nhân thân bị cáo đã bị xử lý, ngày 29/12/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để ren luyện, tu dưỡng bản thân. Nên cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Do vậy ý kiến đề nghị như trên của người bào chữa không được Hội đồng xét xử chấp nhận [11]. Đối với người phụ nữ lạ mặt đã bán Heroine với giá 400.000 đồng cho bị cáo Phản Mô C. Trong qúa trình điều tra không xác định được lai lịch của người phụ nữ này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án: Tại bản án số: 32/2022/HS-ST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, bị cáo Phản Mô C bị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 26/12/2022. Căn cứ Điều 55; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt của bản án số: 32/2022/HS-ST ngày 29/12/2022 đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo: Phản Mô C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phản Mô C: 01 năm 02 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về tổng hợp hình phạt: Căn cứ Điều 55; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự. Bị cáo Phản Mô C phải chịu hình phạt chung của 02 bản án là: 09 tháng tù + 01 năm 02 tháng tù = 01 năm 11 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 26/12/2022.
- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Phản Mô C.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mảnh nilon màu hồng vật chứng thu giữ còn lại của Phản Mô C.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện M.Tè; - Công an huyện M.Tè; - Cơ quan THAHS Công an huyện M.Tè; - Trại giam; - Chi cục THADS huyện M.Tè; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ VA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lò Xuân Hải |