vanban.org

Bản án 66/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 26/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Kh phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn Kh 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2023. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Kh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Kh phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LAI CHÂU
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2023/HS-ST
Ngày: 26-9-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Huy

Bà Hà Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lệ Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2023/TLST – HS ngày 28/8/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2023/QĐXXST-HS ngày 15/9/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn Kh (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam, sinh năm 1991 tại tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản N, xã Noong Hẻo, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Lò Văn C (đã chết) và bà Lò Thị Đ, sinh năm 1965; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 04 chị em bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 01 tiền án: Bản án số: 11/2015/HSST ngày 29/01/2015 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 250, điểm p, h khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt Lò Văn Kh 07 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, buộc bồi thường cho bị hại Lò Văn Đếnh, sinh năm 1963, trú tại bản N2, xã Noong Hẻo, huyện S, tỉnh Lai Châu 4.000.000 đồng và phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự, 200.000 đồng tiền án phí dân sự. Lò Văn Kh đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí nhưng chưa chấp hành xong quyết định của bản án về phần bồi thường dân sự, mặc dù bản án đã hết thời hiệu thi hành vào ngày 15/7/2022 (thời hiệu tính từ khi phạm tội mới 15/7/2017 theo khoản 4 Điều 60 Bộ luật hình sự) nhưng chưa hết thời hạn được xoá án tích theo khoản 3 Điều 70 Bộ luật hình sự nên đến lần phạm tội này bị cáo vẫn còn án tích; Nhân thân: Bản án số: 54/2017/HSST ngày 16/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Lai Châu áp dụng Điều 138, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt Lò Văn Kh 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 15/5/2018, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án nên đã được xóa án tích; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 18/5/2023 đến ngày 27/5/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lai Châu cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 18/5/2023, Lò Văn Kh một mình đi bộ từ Bến xe khách tỉnh Lai Châu đến khu vực chợ Đông Phong thuộc phường Đông Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu để tìm mua Heroine sử dụng. Đến nơi, Kh gặp lại người đàn ông không rõ lai lịch Kh đã mua Heroine vào ngày 17/5/2023 nên đã trao đổi mua bán Heroine với người này (Heroine mua ngày 17/5/2023 Kh đã sử dụng hết). Qua trao đổi mua bán, Kh mua được của người đàn ông nói trên 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, với giá 200.000 đồng. Mua được Heroine, Kh cất giấu gói Heroine vào túi quần bên trái đang mặc trên người rồi đi bộ tìm chỗ sử dụng. Hồi 16 giờ 45 phút cùng ngày, khi Kh đang đi bộ trên vỉa hè đường 30/4 thuộc tổ 26, phường Đông Phong, thành phố Lai Châu thì bị tổ công tác Công an thành phố Lai Châu phối hợp cùng Công an phường Đông Phong, thành phố Lai Châu phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng là 01 gói Heroine Kh đang tàng trữ để sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 35/KLGĐ ngày 18/5/2023 của người giám định tư pháp theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 588/KL-KTHS ngày 22/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn Kh trong quá trình bắt quả tang ngày 18/5/2023 có khối lượng là 0,13 gam. Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Đã thu giữ, tạm giữ của Lò Văn Kh: 0,13 gam heroine; 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng. Đối với 0,13 gam heroine đã gửi toàn bộ giám định, không hoàn lại mẫu vật. Còn lại 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lai Châu, chờ xử lý.

Cáo trạng số 54/CT- VKSTP, ngày 28/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu đã truy tố Lò Văn Kh về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn Kh phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lò Văn Kh mức án từ 18 tháng đến 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2023.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn Kh khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai đã khai báo tại cơ quan điều tra về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, cũng như vật chứng thu giữ trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 16 giờ 45 phút ngày 18/5/2023, tại tổ 26, phường Đông Phong, thành phố Lai Châu, Lò Văn Kh đang tàng trữ trái phép 0,13 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an thành phố Lai Châu phối hợp với Công an phường Đông Phong, thành phố Lai Châu phát hiện phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo Lò Văn Kh là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;

Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy rằng:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Chúng ta đều biết ma túy là chất gây nghiện độc hại phá hủy trực tiếp hệ thần kinh trung ương của người sử dụng, làm cho họ phụ thuộc vào chất ma túy, hủy hoại sức khỏe của những người sử dụng, làm cho họ dần dần không còn khả năng lao động và sinh sống bình thường và làm khánh kiệt kinh tế của gia đình. Việc sử dụng ma túy còn làm cho người sử dụng không thể điều khiển được hành vi của mình và có thể dẫn đến các hành vi nguy hiểm cho bản thân và cho xã hội. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã và đang tích cực phòng chống để đẩy lùi và loại trừ ma tuý ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy gây ra nhưng để thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án năm 2015 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Lai Châu xử phạt 07 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Lò Văn Đếnh số tiền 4.000.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành xong về phần bồi thường dân sự, nên chưa được xóa án tích; Nhân thân: Năm 2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Lai Châu xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 15/5/2018, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án nên đã được xóa án tích. Lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học cho bản thân, nhưng bị cáo lại bất chấp các quy định của pháp luật và lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 29/01/2015 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện huyện S, tỉnh Lai Châu xử phạt 07 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Lò Văn Đếnh số tiền 4.000.000 đồng và phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự, 200.000 đồng tiền án phí dân sự. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí nhưng chưa chấp hành xong về phần bồi thường dân sự, nên chưa được xóa án tích. Do bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm”. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là “Tái phạm”.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa không biết chữ, nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

- 0,13 gam heroine thu giữ của Lò Văn Kh đã gửi toàn bộ đi giám định tại phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu, không hoàn lại mẫu vật, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

- 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng. Xét đây là công cụ phạm tội và là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Trong vụ án này:

Bị cáo Lò Văn Kh khai nhận nguồn gốc 0,13 gam Heroine bị thu giữ là mua của một người đàn ông ở gần chợ Đông Phong, thành phố Lai Châu, ngoài ra bị cáo đã từng mua Heroine của người này một lần vào ngày 17/5/2023 và đã sử dụng hết. Tuy nhiên, do Kh không biết nhân thân, lai lịch người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, điều tra, làm rõ.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Lò Văn Kh sống ở vùng có điều kiện kinh tế

- xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và đề nghị của bị cáo. Do đó, Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn Kh.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Kh phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn Kh 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2023.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy một phong bì công văn của Công an thành phố Lai Châu, bên trong có: 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng. Vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định thu giữ của Lò Văn Kh, trong quá trình bắt quả tang ngày 18/5/2023.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 40 phút ngày 31/8/2023, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lai Châu và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lai Châu).

4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn Kh.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền được kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Lai Châu;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Lai Châu;

- Công an TP Lai Châu;

- VKSND TP Lai Châu;

- Chi cục THADS TP Lai Châu;

- Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;

- Bị cáo;

- Lưu HSVA.

Phạm Thị Nga

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Nga

Cỡ chữ