- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Đức Hậu - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Hình sự - Bộ luật Hình sự; Bộ luật Hình sự Tuyên bố
| ` Toµ ¸n nh©n d©n THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG N ──────── | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66 /2023/HS – ST Ngày 05 – 5 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Loan
Các hội thẩm nhân dân:
1- Bà Phạm Thị Minh Huyền
2- Bà Nguyễn Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thanh Thảo – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N tham gia phiên tòa: ông Trần Xuân Vọng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn T (tên gọi khác: không). Giới tính: nam. Sinh ngày 22/9/1975, tại thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N. Nơi thường trú: tổ 3, khu Long Thạch A, phường Cẩm Thạch, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: lao động tự do. Trình độ học vấn: lớp 11/12. Con ông: Nguyễn Văn Kim. Con bà: Nguyễn Thị Cơ (đã chết). Có vợ Đoàn Thị Lộc, có hai con lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2012. Tiền án: không, tiền sự: ngày 24/2/2020 Tòa án nhân dân thành phố Cẩm P ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 12 tháng (đã chấp hành từ ngày 5/6/2020 đến ngày 12/6/2020 đi chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng N, hiện chưa tiếp tục thi hành). Bi cáo bị bắt ngày 14/12/2022, hiện tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Cẩm P, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Đức H (tên gọi khác: không). Giới tính: nam. Sinh ngày 24/7/1965, tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng N. Nơi thường trú: tổ 3, khu 8, phường Hồng Hà, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng N. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: lao động tự do. Trình độ học vấn: lớp 10/10. Con ông: Nguyễn Đức Hà. Con bà: Phạm Thị Tịnh. Có vợ Nguyễn Thị Thu Hương, có hai con, lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1993. Tiền án: ngày 18/5/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, hiện đang trong thời gian thử thách. Tiền sự: không. Bị bắt ngày 14/12/2022, hiện tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Cẩm P, có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến: anh Đặng Vũ Lâm Phong - sinh năm 2000; ( nơi cư trú: tổ 5, khu Tân Lập 4, phường Cẩm Thủy, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N) và anh Nguyễn Minh Tuấn - sinh năm 1996; (nơi cư trú: tổ 6, khu Đập Nước 2, phường Cẩm Thủy, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N) - đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn T và Nguyễn Đức H là bạn xã hội với nhau. Vào khoảng 07 giờ ngày 14/12/2022 Nguyễn Văn T đi xe khách từ nhà sang khu vực chân cầu Bính thuộc thành phố Hải Phòng mua của người đàn ông không quen biết 01 gói ma Ty Heroine với giá 2000.000đồng. T mang về bỏ ra một ít để sử dụng, phần ma Ty còn lại T chia nhỏ cho vào trong một hộp nhựa hình cầu và 02 vỏ Ti nilong cất ở phòng khách gian nhà cấp 4 với mục đích để bán. Khoảng 16 giờ cùng ngày thì Nguyễn Đức H đến nhà T chơi. Tại đây H hỏi mua ma Ty của T với mục đích để sử dụng và T đồng ý bán cho H một Ti nilon đựng ma Ty Heroine với giá 1000.000 đồng. Sau đó T và H vừa đi ra đến cửa nhà T thuộc tổ 3, khu Long Thạch A, phường Cẩm Thạch, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N thì bị Công an bắt quả tang.
Quá trình bắt giữ thu giữ vật chứng:
- Tại Ti quần phía sau bên Pi của Nguyễn Văn T 1.000.000đồng gồm hai tờ tiền mệnh giá 500.000đồng, T khai là tiền bán ma Ty cho H. Thu tại Ti quần bên trái phía trước của T một điện thoại di động Nokia màu đen lắp sim 1 0912.005.008, sim 2 số 0824.884.228.
- Tại Ti áo ngực phía trong bên trái của H 01 gói giấy vệ sinh màu trắng bên trong có một Ti nilon kích thước (4x7,2)cm chứa 1,157gam chất bột màu trắng, H khai là ma Ty Heroin vừa mua của T. Tại tay Pi của H 01 điện thoại di động Huawei màu trắng lắp sim 0944.841.698.
- Tại nơi ở của T thu trong ví màu nâu (loại ví đựng kính) để trên ghế sopha ở gian nhà cấp 4: 01 Ti nilon kích thước (4x7,2)cm chứa 0,946gam chất màu trắng, 01 hộp nhựa màu trắng hình cầu đường kính 2,5cm có chứa 0,483gam chất bột màu trắng, trên mặt bàn kính gần ghế sopha ở gian nhà cấp 4 01 lưỡi dao lam có chữ LORD, 01 mảnh giấy bạc và 20 vỏ Ti nilon kích thước (4x7,2)cm.
Tại Bản kết luận giám định số 2013/KL-KTHS ngày 21/12/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng N, kết luận: chất bột màu trắng trong 01 Ti nilon kích thước (4x7,2)cm thu giữ của Nguyễn Đức H (ký hiệu M1), 01 Ti nilon kích thước (4x7,2)cm (ký hiệu M2) và 01 hộp nhựa màu trắng hình cầu đường kính 2,5cm (ký hiệu M3) thu giữ trong quá trình khám xét tại nhà Nguyễn Văn T là ma tuý loại Heroin có khối lượng M1: 1,157 gam, M2: 0,946gam và M3: 0,483gam.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T và Nguyễn Đức H đều khai nhận hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra, T và H đều khai đây là lần đầu tiên T bán ma Ty cho H. T sử dụng điện thoại di động Nokia màu đen lắp sim số 0912.005.008, sim 2 số 0824.884.228 và H sử dụng điện thoại di động Huawei màu trắng lắp sim 0944.841.698 để liên lạc cá nhân không dùng để liên lạc vào việc mua bán ma Ty.
Các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 2013/KL-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng N.
*Người chứng kiến anh Đặng Vũ Lâm Phong và anh Nguyễn Minh Tuấn đều có lời khai phù hợp với nội dung vụ án chứng kiến Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng của Nguyễn Đức H, Nguyễn Văn T và niêm phong vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.
*Bản Cáo trạng số 47/CT-VKSCP ngày 31/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P truy tố Nguyễn Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma Ty” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Đức H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma Ty” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51- Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T từ 42 tháng tù đến 45 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 14/12/2022.
- Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56 và khoản 5 Điều 65 - Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Đức H từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma Ty” và tổng hợp với 36 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại bản án số 154/2020/HS-ST ngày 18/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng N, buộc Nguyễn Đức H Pi chấp hành hình phạt chung từ 60 tháng tù đến 66 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 14/12/2022.
- Điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự; điểm a, b,c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng Hình sự: tịch thu tiêu hủy số ma Ty được hoàn lại sau giám định, 01 lưỡi dao lam có chữ LORD, 01 mảnh giấy bạc và 20 vỏ Ti nilon kích thước (4x7,2)cm. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 1000.000đồng thu giữ của bị cáo T. Trả lại cho bị cáo T điện thoại di động Nokia màu đen lắp sim số 0912.005.008, sim 2 số 0824.884.228 và bị cáo H điện thoại di động Huawei màu trắng lắp sim 0944.841.698.
*Các bị cáo không có ý kiến gì về Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P và bản luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng: các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Do đó, các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 16 giờ 35phút ngày 14/12/2022 tại tổ 3, khu Long Thạch A, phường Cẩm Thạch, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, Biên bản thu giữ vật chứng, Kết luận giám định số 2013/KL-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng N, phù hợp với lời khai của người chứng kiến anh Đặng Vũ Lâm Phong và anh Nguyễn Minh Tuấn và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 16 giờ 30 phút ngày 14/12/2022, tại tổ 3, khu Long Thạch A, phường Cẩm Thạch, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, Nguyễn Văn T có hành vi bán trái phép 1,157gam ma Ty loại Heroine với giá 1.000.000đồng cho Nguyễn Đức H, H cất giấu số ma Ty trên trong người để sử dụng thì bị Công an bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Ngoài ra Nguyễn Văn T còn tàng trữ 1,429gam ma Ty loại Herôin tại nhà với mục đích để bán.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma Ty” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 và hành vi của bị cáo Nguyễn Đức H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma Ty” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật Hình sự, như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ và vai trò: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý về ma Ty của Nhà nước. Các bị cáo đều biết rõ tác hại của ma Ty và pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi liên quan đến ma Ty. Nhưng vì hám lời, bị cáo T đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma Ty cho bị cáo H và để có ma Ty sử dụng, bị cáo H đã tàng trữ trái phép chất ma Ty nhằm thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, thể hiện thái độ coi thường pháp luật.
Mặt khác, bị cáo H đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng N xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại bản án số 154/2020/HS-ST ngày 18/5/2020, đang trong thời gian thử thách mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên bị cáo còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T đã có một tiền sự. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần Pi lên mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với cấu thành tội phạm độc lập, nên mỗi bị cáo Pi chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi phạm tội của mình. Đồng thời, đối với bị cáo H: theo quy định tại khoản 2 Điều 56 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự thì 36 tháng tù cho hưởng án treo của bản án số 154/2020/HS-ST ngày 18/5/2020 sẽ được chuyển thành 36 tháng tù và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
Tuy nhiên cũng xét các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo T có bố đẻ và mẹ đẻ, bị cáo H có bố đẻ được Hội đồng Nhà nước Nước Cộng Hòa xã Hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huân chương kháng chiến hạng ba vì đã có công lao trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngoài ra, bị cáo H trong quá trình công tác được UBND TP Hạ Long tặng giấy khen vào năm 2004 vì đã có nhiều thành tích trong công tác giải phóng mặt bằng, năm 2007 được Cục Thống kê tỉnh Quảng N tặng giấy khen vì đã có thành tích trong công tác Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp. Hội đồng xét xử thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để các bị cáo yên tâm cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, đều là những đối tượng nghiện, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng: theo quy định tại điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng Hình sự:
-Tịch thu tiêu hủy số ma Ty được hoàn lại sau giám định đựng trong một phong bì niêm phong số 2013/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng N là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành và 01 lưỡi dao lam có chữ LORD, 01 mảnh giấy bạc và 20 vỏ Ti nilon kích thước (4x7,2)cm là vật không có giá trị sử dụng.
-Trả lại cho bị cáo T điện thoại di động Nokia màu đen lắp sim số 0912.005.008, sim 2 số 0824.884.228 và bị cáo H điện thoại di động Huawei màu trắng lắp sim 0944.841.698 vì đây là các vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo do các bị cáo chỉ dùng điện thoại liên lạc cá nhân.
-Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 1.000.000đồng (một triệu đồng) thu giữ của bị cáo T theo Biên bản giao nhận tài sản số 08/2023/BBGN-KBNNCP ngày 12/01/2023 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Cẩm P và Kho bạc Nhà nước Cẩm P, vì đây là tiền do bị cáo bán ma Ty cho H mà có.
Các bị cáo Pi nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và 333 – Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với người bán ma Ty cho Nguyễn Văn T, do không có thông tin cụ thể về lai lịch, địa chỉ, nên không có cơ sở để xác minh làm rõ, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên
QuyÕt ®Þnh:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51- Bộ luật Hình sự - Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 39 (ba mươi chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 14/12/2022.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56 và khoản 5 Điều 65 - Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma Ty”
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma Ty”, tổng hợp với 36 tháng tù về tội: “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại bản án số 154/2020/HS-ST ngày 18/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng N, buộc Nguyễn Đức H Pi chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 57 ( năm mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 14/12/2022.
-Căn cứ vào điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự; điểm a, b,c khoản 2 và khoản 3 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma Ty được hoàn lại sau giám định đựng trong một phong bì niêm phong số 2013/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng N và 01 lưỡi dao lam có chữ LORD, 01 mảnh giấy bạc và 20 vỏ Ti nilon kích thước (4x7,2)cm.
- Trả lại cho bị cáo T điện thoại di động Nokia màu đen và bị cáo H điện thoại di động Huawei màu trắng.
-Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 1000.000đồng (một triệu đồng) thu giữ của bị cáo T theo Biên bản giao nhận tài sản số 08/2023/BBGN-KBNNCP ngày 12/01/2023 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Cẩm P và Kho bạc Nhà nước Cẩm P.
(Tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng số 115 /BB-THA ngày 18/4/2023 tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N).
-Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Đức H mỗi bị cáo Pi nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.
- Căn cứ vào Điều 331 và 333 - Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Quảng N; - VKSND tỉnh Quảng N; - VKSND thành phố Cẩm P; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Cẩm P; - Cơ quan THAHS công an thành phố Cẩm P; - Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm P; - Nhà tạm giữ Công an thành phố Cẩm P; - Bị cáo; -Lưu hồ sơ, văn phòng; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Loan |