vanban.org

Bản án 66/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 07/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Duy A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Duy A 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm y… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Duy A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ C
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2023/HS-ST
Ngày 07 – 4 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Sĩ Hùng

Ông Huỳnh Hoàng Khởi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Như, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Huỳnh Duy A, tên gọi khác: Không có, sinh năm 1983 tại: Cà Mau. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khóm B, phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau; địa chỉ cư trú: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn L, con bà: Trần Kim E; vợ: Ngô Hải Y (đã ly hôn); con: 01 người.

Tiền án: Không; Tiền sự: 02 lần - Tại Quyết định số 09/2021/QĐ-TA ngày 05/02/2021 của Toà án nhân dân huyện TV, tỉnh Cà Mau áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 16 tháng. Chấp hành xong ngày 28/02/2022. Tại Quyết định số 112/QĐ-XPVPHC ngày 01/8/2022 của Uỷ ban nhân dân phường A, thành phố C xử phạt Huỳnh Duy A 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; Nhân thân: Xấu - Ngày 25/9/2010 bị Uỷ ban nhân dân huyện TV, tỉnh Cà Mau đưa vào cơ sở chữa bệnh theo Quyết định số 2409/QĐ-UB ngày 25/9/2021, thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 25/9/2012. Ngày 27/9/2013, bị Toà án nhân dân huyện TVT, tỉnh Cà Mau xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt ngày 24/12/2014; chấp hành xong án phí ngày 03/3/2014. Tại Quyết định số 95/2021/QĐ-TA ngày 24/4/2018 của Toà án nhân dân thành phố C áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng. Chấp hành xong ngày 29/02/2020.

Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Trần Việt Yến N, sinh năm 1979.

(vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm B, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 04 giờ 30 ngày 01/11/2022, Huỳnh Duy A cùng P (không rõ địa chỉ, họ tên đầy đủ) đi bộ trên đường NQ, đoạn khóm E, phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Khi đi ngang qua Cơ sở bán đồ gỗ TV do chị Trần Việt Yến N làm chủ thì phát hiện có nhiều đồ gỗ trưng bày bán để bên trong hàng rào, không có người trông coi, nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Duy A đứng bên ngoài hàng rào, P leo rào vào trong lấy trộm một tủ thờ thần tài bằng gỗ đỏ, kích thước 81cm x 60cm, chuyển ra bên ngoài cho Duy A. Sau đó P leo ra ngoài, cùng Duy A đem tủ thờ thần tài vừa trộm cất giấu tại khu vực thuộc phường B, thành phố C.

Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, chị Trần Việt Yến N phát hiện mất một tủ thờ thần tài bằng gỗ đỏ nên trình báo Công an phường A, thành phố Cà Mau.

Qua xác minh đối tượng, đến 11 giờ cùng ngày, Công an phường A, thành phố C mời Huỳnh Duy A làm việc. Qua làm việc, Duy A thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản, mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân; việc trộm cắp Duy A thực hiện cùng với P (chỉ biết tên, không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của P). Duy A giao nộp cho Công an phường A, thành phố C một tủ thờ thần tài mà Duy A đã lấy trộm.

Ngày 26/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại chị Trần Việt Yến N 01 tủ thờ thần tài bằng gỗ đỏ mà chị N bị lấy trộm. Chị N nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Kết luận định giá tài sản số 99/KL-HĐĐG ngày 25/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Tại thời điểm tháng 11/2022, 01 tủ thờ thần tài bằng gỗ đỏ, kích thước 81cm x 60cm, chưa qua sử dụng, giá trị 4.200.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 27/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo Huỳnh Duy A về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 27/02/2023 và đề nghị:

- Về tội danh: Tuyên bố Huỳnh Duy A phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Duy A từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Tại phiên toà, bị cáo Huỳnh Duy A hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng đã truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, bị hại không khiếu nại gì về các hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, về quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố C. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Bị hại trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; quá trình điều tra đã có lời khai hợp pháp của bị hại nên việc vắng mặt bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại theo quy định pháp luật.

Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Duy A hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, theo đó thể hiện: Vào khoảng 04 giờ 30 phút ngày 01/11/2022, tại khóm E, phường A, thành phố C, Huỳnh Duy A cũng với P (theo lời khai của bị cáo) đã lén lút lấy trộm tài sản của chị Trần Việt Yến N là 01 (một) tủ thần tài bằng gỗ đỏ, kích thước 81cm x 60cm, chưa qua sử dụng, giá trị 4.200.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Khi phạm tội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 4.200.000 đồng nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo đã giao nộp lại tài sản trộm để trả cho bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về mức lượng hình: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh trật tự địa phương. Do đó cần có hình phạt tương xứng với nhân thân, với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo; quá trình điều tra, bị cáo đã giao nộp lại tài sản trộm để trả cho bị hại nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Không có nên không đặt ra việc xử lý.

Đối với người tên P bị cáo khai đã trộm cắp tài sản cùng bị cáo: Do chưa xác định được họ tên đầy đủ, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được. Do đó, giao Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ. Có căn cứ, xử lý sau là phù hợp.

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Duy A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Duy A 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Huỳnh Duy A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ