- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2023/HS-ST Ngày 30/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tạ Văn Tư
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nông Hữu Thái
2. Ông Lý Văn Liêm
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lộc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Vi Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 6 năm 2023, Tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn và điểm cầu Nhà tạm giữ Công an thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2023/HSST, ngày 02 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Lường Văn Q, sinh ngày 04/02/1981; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: tổ B, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lường Văn Q1 (đã chết) và bà Hà Thị S; Có vợ là Đinh Thị T và 02 con; Tiền án; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/12/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt 03 (ba) năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/11/2022 đến ngày 23/11/2022 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn. Hiện bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đinh Thị T sinh năm 1983; Địa chỉ: tổ B, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 00 phút ngày 15/11/2022, tại khu vực tổ C, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an tỉnh Bắc Kạn phát hiện, bắt quả tang Lường Văn Q về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra thu giữ trong lòng bàn tay phải của Q 01 (một) gói được gói bằng giấy có hoa văn, bên trong có chứa chất màu trắng dạng bột nghi là chất ma túy (Niêm phong trong phong bì ký hiệu Q1); thu giữ bên trong tất bên phải đang đi trong chân của Q 01 (một) gói được gói bằng giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong có chứa chất màu trắng dạng bột nghi là chất ma túy (Niêm phong trong phong bì ký hiệu Q2). Ngoài ra, còn tạm giữ của Lường Văn Q 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, loại bàn phím nhựa, bên trong lắp 01 (một) thẻ sim và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu DETECH, Biển kiểm soát 97B1-377… đều đã qua sử dụng.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn đã tiến hành cân xác định khối lượng số chất màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu Q1 xác định được tổng khối lượng là 0,396g (không phẩy ba chín sáu gam). Sau khi cân, đã tiến hành niêm phong toàn bộ số chất màu trắng nêu trên vào trong phong bì ký hiệu K1 gửi trưng cầu giám định chất ma túy; tiến hành cân xác định khối lượng số chất màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu Q2 xác định được tổng khối lượng là 0,074g (không phẩy không bảy bốn gam). Sau khi cân, đã tiến hành niêm phong toàn bộ số chất màu trắng nêu trên vào trong phong bì ký hiệu K2 gửi trưng cầu giám định chất ma túy; Vỏ phong bì ký hiệu Q1, Q2, giấy gói cũ được niêm phong trong phong bì ký hiệu K3 bảo quản theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 260/KL-KTHS ngày 19/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Mẫu chất màu trắng dạng bột trong phong bì ký hiệu K1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,396g (không phẩy ba chín sáu gam); Mẫu chất màu trắng dạng bột trong phong bì ký hiệu K2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,074g (không phẩy không bảy bốn gam)”. Sau giám định, mẫu chất còn lại cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì ký hiệu T198 hoàn trả lại Cơ quan trưng cầu giám định.
Như vậy, tổng khối lượng ma túy, loại Heroine mà Lường Văn Q đã tàng trữ trái phép trong ngày 15/11/2022 là 0,47g (không phẩy bốn bảy gam).
Tại Cơ quan điều tra, Lường Văn Q khai nhận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 15/11/2022, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu DETECH, Biển kiểm soát 97B1-377… đi từ nhà ở của Q thuộc tổ B, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn đến khu vực tổ C, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, Lường Văn Q gặp một người phụ nữ không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể, Q hỏi người phụ nữ đó có ma túy bán không, người phụ nữ trả lời là có ma túy bán. Sau đó, Lường Văn Q đưa cho người phụ nữ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) để mua ma túy, người phụ nữ cầm tiền và bảo Q đợi rồi người phụ nữ đó đi đâu Q không rõ. Khoảng 05 phút sau, người phụ nữ đó quay lại và đưa cho Lường Văn Q 01 (một) gói ma túy, loại Heroine được gói bằng giấy có hoa văn. Sau khi mua được ma túy, Lường Văn Q vào lề đường gần đó chia gói ma túy vừa mua được thành 02 (hai) gói nhỏ có đặc điểm: 01 (một) gói được gói trong giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, Q đem cất giấu trong chân tất bên phải đang đi; 01 (một) gói còn lại được gói trong giấy có hoa văn bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy, loại Heroine, Q cất giấu trong lòng bàn tay phải. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô đi tìm nơi để sử dụng trái phép chất ma túy. Trên đường đi đến khu vực tổ C, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn thì Lường Văn Q bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý Công an tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật như đã nêu trên.
Lời khai nêu trên của Lường Văn Q phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Tại Cáo trạng số 49/CT-VKSTP ngày 31/5/2023 của VKSND thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Lường Văn Q về tội “Tàng Trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:
*Tuyên bố bị cáo Lường Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn Q từ 15 (mười năm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
*Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T198; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K3.
- Tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, loại bàn phím nhựa, bên trong điện thoại có 01 sim, đã qua sử dụng để thi hành án cho bị cáo.
- Tịch thu, hóa giá nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của chiếc xe mô tô nhãn hiệu DETECH, biển kiểm soát 97B1-377…cùng 01 chìa khóa xe và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 036… mang tên Hoàng Văn M; còn ½ giá trị của chiếc xe mô tô trả lại cho bà Đinh Thị T.
*Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng, mong Hội đồng xét xử xem xét xử với mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo Lường Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Hồi 08 giờ 00 phút ngày 15/11/2022, tại khu vực tổ C, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, Lường Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,47g (Không phẩy bốn bảy gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ toàn bộ tang vật.
Hành vi nêu trên của Lường Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
... c) Heroine, Methamphetamine… có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam;…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Cáo trạng số 49/CT-VKSTPBK ngày 31/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là cố ý, đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an - xã hội của địa phương. Vì vậy, phải được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là: Người phạm tội thành khẩn khai báo. Xét bị cáo có sức khỏe nhưng không chịu làm ăn lương thiện, mà lại lao vào con đường nghiện chất ma tuý; nên khi xem xét lượng hình cần phải có một hình phạt thỏa đáng tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Trong vụ án này, còn có người phụ nữ (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) theo lời khai của Lường Văn Q là người bán trái phép chất ma túy cho Q vào ngày 15/11/2022 tại khu vực tổ C, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Tuy nhiên, hiện nay Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có căn cứ xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Về vật chứng trong vụ án:
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T198 và 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K3. Tất cả đều không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, loại bàn phím nhựa, bên trong điện thoại có 01 sim, đã qua sử dụng là của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để thi hành án cho bị cáo.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu DETECH, biển kiểm soát 97B1-377… cùng 01 chìa khóa xe và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 036… mang tên Hoàng Văn M (vợ chồng bị cáo mua nhưng chưa sang tên). Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định chiếc xe mô tô này là tài sản chung của vợ chồng, được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa bị cáo và vợ là Đinh Thị T, nên cần tuyên tịch thu, hóa giá nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của xe mô tô; còn ½ giá trị của xe mô tô trả lại cho bà Đinh Thị T là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghiện chất ma túy và không có tài sản, nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
*Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: bị cáo Lường Văn Q 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình (được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 15/11/2022 đến ngày 23/11/2022).
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T198; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K3.
- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, loại bàn phím nhựa, bên trong điện thoại có 01 sim, đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để thi hành án cho bị cáo.
- Tịch thu, hóa giá nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của chiếc xe mô tô nhãn hiệu DETECH, biển kiểm soát 97B1-377… cùng 01 chìa khóa xe và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 036… mang tên Hoàng Văn M; còn ½ giá trị của chiếc xe mô tô trả lại cho bà Đinh Thị T.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/6/2023 giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí. Buộc bị cáo Lường Văn Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự” - Theo Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn (01b); - VKSND tỉnh Bắc Kạn (01b); - VKSND thành phố Bắc Kạn (01b); - Công an thành phố Bắc Kạn (02b); - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn (Khi án có hiệu lực - 01b); - Sở Tư pháp; - Người tham gia tố tụng (01b); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Văn Tư |