vanban.org

Bản án 66/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 26/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Miễn phạt tiền cho bị cáo Pùm X.

Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy Methamphetamine còn lại sau khi giám định là 343,77 gam (ba trăm bốn ba phẩy bảy bảy). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Pùm Xốmmạnivông 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Miễn phạt tiền cho bị cáo Pùm X.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2023/HS-ST
Ngày 26 - 5 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vi Văn Chắt

Thẩm phán: Bà Thái Thị Hồng Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo

Ông Hồ Bá Võ

Ông Trần Xuân Thành

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Quyên - Thẩm tra viên Toà án Nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Hoa Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên toà xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2023/TLST-HS ngày 24/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo có họ và tên:

Pùm X; tên gọi khác: Pịa; giới tính: Nam; sinh ngày 26 tháng 4 năm 1996 tại huyện N, tỉnh X, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; nơi cư trú: Bản Đ, cụm bản NHT, huyện N, tỉnh X, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; quốc tịch: Lào; dân tộc: Khơ Mú; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Xốm X, sinh năm 1978 và bà Koongphêng X, sinh năm 1974; vợ: Vơixeo V, sinh năm 1999; chưa có con; không có tiền án, tiền sự; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2022 đến nay Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An; có mặt tại điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;

- Người bào chữa cho bị cáo:

1

Bà Đặng Thị Thanh H - Luật sư Văn phòng Luật sư HT; Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người phiên dịch: Ông Hà Văn Th, sinh năm 1975 - Phó Đội trưởng, Phòng An ninh nội địa, Công an tỉnh Nghệ An; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 24/12/2022, khi đang đi bộ ngoài đường gần nhà mình ở bản Đ, cụm bản NHT, huyện N, tỉnh X, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Pùm X gặp Bun Ma. Qua trao đổi, Bun Ma đặt vấn đề thuê Pùm X mang "hàng" từ Lào sang Việt Nam. Pùm hỏi: “Hàng gì?”, Bun Ma nói: “Ma túy” và sẽ trả công cho Pùm 200.000 kíp Lào (tức là khoảng 300.000 đồng), Pùm đồng ý. Bun Ma đưa 01 (một) túi polytylen màu trắng chứa 20 (hai mươi) gói ma túy hồng phiến cho Pùm và dặn: “Đưa sang gần cửa khẩu N giao cho người Việt Nam lấy 14.000.000 kíp Lào (Mười bốn triệu kíp Lào), tức khoảng 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng). Người nhận ma túy sẽ hỏi Pùm là: “Hàng à, Bun Ma à?”. Sau đó, Pùm nhận 01 (một) túi polytylen chứa ma túy từ Bun Ma rồi đi bộ khoảng một giờ đồng hồ theo đường tiểu mạch qua biên giới Việt Nam - Lào. Đến khoảng 17 giờ 35 phút ngày 24/12/2022, khi Pùm đi đến khu vực cách mốc Quốc giới 404 (1) về phía Việt Nam khoảng 300 mét thuộc bản T, xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An thì gặp một người đàn ông. Người này nói tiếng Lào, hỏi Pùm: “Hàng à, Bun Ma à?”. Khi Pùm chưa kịp giao ma túy và nhận tiền bán ma túy thì bị tổ công tác Phòng phòng chống ma túy và tội phạm thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Nghệ An và Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế N phối hợp với Đồn Biên phòng Mường Ải, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Nghệ An phát hiện, bắt quả tang cùng với vật chứng như đã nêu trên; còn người đàn ông nhận ma túy lợi dụng sơ hở đã chạy thoát.

Kết luận giám định số 47/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 30/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “20 (hai mươi) mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu từ M1 đến M20) thu giữ của Pùm gửi tới giám định đều là ma túy Methamphetamine. Số viên nén màu hồng (20 gói) thu giữ của Pùm có tổng khối lượng là 380,72 g (ba trăm tám mươi phẩy bảy mươi hai gam)”.

Vật chứng vụ án: 380,72 g (ba trăm tám mươi phẩy bảy mươi hai gam) ma túy Methamphetamine đã lấy 36,95 gam gửi đi giám định, còn lại 343,77 gam; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen, số IMEI 1:

2

868049046652911; số IMEI 2: 868049046652903. Số vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

Tại Bản Cáo trạng số 72/CT-VKS-P1 ngày 19 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Pùm X về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 4, Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, khoản 4, Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Pùm X 20 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2022.

Bị cáo Pùm không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên và đồng ý với phần bào chữa của luật sư, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về họ tên của bị cáo thấy rằng, trong các quyết định tố tụng của Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế N thuộc Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Nghệ An và của Viện kiểm sát các cấp cũng như các hành vi ghi các nội dung trong các Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can và các tài liệu khác đều thể hiện tên, họ bị cáo đều được gạch nối (ngang), không phản ảnh rõ tên bị cáo là một chữ hay nhiều chữ, trong phần hỏi lý lịch bị cáo tại phiên tòa Hội đồng xét xử yêu cầu bị cáo trình bày thì bị cáo khẳng định tên là Pùm, còn họ là X. Như vậy, tên của bị cáo xác định được là Pùm (đơn âm) còn họ của bị cáo là X (đa âm) không có gạch nối giữa các tên và họ cũng như các chữ của họ bị cáo. Đây là nội dung làm rõ được tại phiên tòa nên không cần phải trả hồ sơ điều tra bổ sung. Xét, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Pùm khai nhận, vào hồi 17 giờ 35 phút ngày 24/12/2022, tại khu vực cách mốc Quốc giới 404 (1) về phía Việt Nam khoảng 300 mét thuộc bản T, xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An, Pùm mang

3

380,72 gam (ba trăm tám mươi phẩy bảy mươi hai gam) ma túy Methamphetamine bán cho 01 (một) người đàn ông Việt Nam (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 14.000.000 kíp Lào (Mười bốn triệu kíp Lào), khoảng 21.000.000 đồng Việt nam (Hai mươi mốt triệu đồng) thì bị tổ công tác Phòng phòng chống ma túy và tội phạm thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Nghệ An, Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế N phối hợp với Đồn Biên phòng Mường Ải, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Pùm tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án cũng như các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi mang ma túy sang bán cho một người đàn ông Việt Nam (không rõ lai lịch, địa chỉ) tại lãnh thổ Việt Nam là hành vi mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng chất ma túy bị cáo mua bán là 380,72 gam (ba trăm tám mươi phẩy bảy mươi hai gam). Bị cáo cho rằng chỉ xách thuê (vận chuyển) cho người tên Bun Ma là không có căn cứ vì bị cáo biết được người này bán ma túy nhưng vẫn đồng ý hơn nữa cũng không xác định được người này ở đâu, làm gì. Hội đồng xét xử xét thấy đủ căn cứ kết luận bị cáo Pùm X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, vi phạm điểm b (Methamphetamine có khối lượng 100 gam trở lên) khoản 4 Điều 251 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét tính chất, tác hại của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, ma túy là hiểm họ lớn cho toàn xã hội, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự xã hội, gây tác hại cho sức khỏe con người, làm suy thoái nòi giống và phẩm giá con người, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình bị Nhà nước Việt nam nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm nhằm mục đích vụ lợi; bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Vì vậy, phải áp dụng hình phạt nghiêm minh phù hợp tính chất hành vi của bị cáo nhằm trừng trị hành vi phạm tội đồng thời răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm về ma túy.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, hiện tại không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng; trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ quy

4

định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định các loại hình phạt là tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Căn cứ vào các tình tiết đã phân tích trên, Hội đồng xét xử áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn nhưng không có căn cứ cho bị cáo hưởng dưới khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp.

Hình phạt bổ sung: Theo bị cáo Pùm trình bày có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, chưa thu lợi từ việc mua bán trái phép chất ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng: Ma túy là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy đối với 343,77 gam (ba trăm bốn ba phẩy bảy bảy) ma túy (Methamphetamine), (đã trừ đi 36,95 gam gửi đi giám định). Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen, số IMEI 1: 868049046652911; số IMEI 2: 868049046652903 bị cáo không sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Về các nội dung khác: Đối với người đàn ông tên Bun Ma theo Pùm khai là người giao ma túy cho Pùm đưa sang Việt Nam bán, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An đã có Công văn ủy thác tư pháp hình sự đến Viện kiểm sát nhân dân tỉnh X, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào nhưng đến nay chưa nhận được kết quả ủy thác. Đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

Đối với người đàn ông Việt Nam, theo lời khai của Pùm là người mua ma túy của Bun Ma. Nhưng Pùm không biết lai lịch, địa chỉ của người này nên không có cơ sở để xác minh làm rõ, xử lý trong vụ án.

Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Pùm X 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam 24/12/2022.

Miễn phạt tiền cho bị cáo Pùm X.

Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy

5

Methamphetamine còn lại sau khi giám định là 343,77 gam (ba trăm bốn ba phẩy bảy bảy).

Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen, số IMEI 1: 868049046652911; số IMEI 2: 868049046652903 cho bị cáo Pùm X.

Đặc điểm các vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/4/2023, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An (BL134).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Pùm X phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án Nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ