vanban.org

Bản án 66/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 14/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2] Tuyên bố: Bị cáo Lâm Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. [3] Xử phạt: Bị cáo Lâm Văn Ch mức án 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Văn Ch - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TP
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2023/HS-ST
Ngày 14-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bích Thị Kim Pháp

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Thị Bích Lam

+ Bà Trần Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TP.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

Lâm Văn Ch; Sinh ngày: 10/10/1993 tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư trú: Khu phố PH, thị trấn PRC, huyện TP, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm Văn L và bà Nguyễn Thị B (đã chết); Vợ, con: chưa có;

Tiền án: Không;

Tiền sự: 01. Ngày 10/02/2023 tại Quyết định số: 32/QĐ-TA của Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Thuận áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, đến nay chưa thi hành.

Quá trình hoạt động của bản thân:

- Ngày 09/3/2020, tại Quyết định số: 23/QĐ-TA của Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Thuận áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 22/3/2021.

Bị cáo Lâm Văn Ch bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 18/4/2023 đến ngày 17/7/2023. Hiện đang tại ngoại tại Khu phố Phú Hòa, thị trấn PRC, huyện TP, tỉnh Bình Thuận. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 14/3/2023, Lâm Văn Ch bọc số tiền 200.000 đồng của cá nhân một mình từ nhà ra đường bắt xe ôm để đi đến khu vực xóm Cthuộc khu phố MT2, thị trấn PRC, huyện TP, tỉnh Bình Thuận tìm mua Heroine về sử dụng. Khi Ch gặp được người xe ôm không biết tên (tại Cơ quan Công an, người xe ôm khai tên Nguyễn Tư, sinh năm 1953, trú tại: khu phố PT, thị trấn PRC, huyện TP, tỉnh Bình Thuận) rồi nhờ chở Ch đến khu vực xóm Cthuộc thị trấn PRC có công việc. Người xe ôm chở Ch đến khu vực nói trên thì Ch kêu dừng lại chờ Ch một lúc rồi chở Ch về lại, sau đó Ch đi tìm gặp một người thanh niên không rõ họ tên, lai lịch để tìm mua Heroine. Khi gặp được người thanh niên này, Ch nói với người thanh niên bán Ch 02 tép Heroine và Ch đưa người này 200.000 đồng. Nhận tiền xong, người thanh niên lấy từ trong người ra 02 tép Heroine có đặc điểm là 02 đoạn ống hút nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu, kích thước giống nhau khoảng 01 cm × 02 cm, bên trong 02 đoạn ống hút nhựa màu xanh có chứa chất rắn dạng nén. Mua Heroine xong, Ch cầm 02 tép Heroine trên tay phải quay lại chỗ người xe ôm để đi về lại khu phố Phú Hòa, thị trấn PRC để sử dụng. Khi Ch vừa đi đến chỗ người xe ôm thì bị tổ công tác Công an huyện TP phối hợp với Công an thị trấn PRC tuần tra địa bàn đảm bảo an ninh trật tự phát hiện, bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ gồm: 02 đoạn ống hút nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu, kích thước giống nhau khoảng 01 x 02 cm, bên trong hai đoạn ống hút nhựa màu xanh có chứa chất rắn dạng nén (được niêm phong trong phong bì ký hiệu 01 gửi giám định được định danh là mẫu M). Lâm Văn Ch khai nhận đây là ma túy loại Heroin mà Ch vừa mua được từ một người thanh niên không rõ lai lịch, khi bị lực lượng công an kiểm tra do lo sợ nên Ch đã dùng tay phải ném 02 tép Heroine vừa mua được xuống mặt đường cách 02 mũi bàn chân Ch đứng khoảng 0,5 mét gần chỗ của người xe ôm đứng chờ. Mục đích Ch cất giấu ma túy trong người là để sử dụng nhưng chưa sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ.

Tại bản kết luận giám định về ma túy số 401/KL-KTHS ngày 07/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1604 gam, là Heroine (Heroin).

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.

Về tang vật chứng: Đã chuyển vào kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TP toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 02 đoạn ống hút nhựa màu xanh đã cắt lấy mẫu cùng 0,1359 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 401, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 68/CT-VKSTP-HS ngày 13/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Bị cáo Lâm Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Xử phạt: Bị cáo Lâm Văn Ch mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

- Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 02 đoạn ống nhựa màu xanh đã cắt lấy mẫu cùng 0,1359 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 401.

Là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/6/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện TP và Chi cục thi hành án dân sự huyện TP).

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận và đồng ý với quyết định truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận, nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt Ch bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện TP: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lâm Văn Ch thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo khẳng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra vụ án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản thu giữ tang vật chứng; Kết quả giám định chất ma tuý;... Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 14/3/2023, Lâm Văn Ch gọi xe ôm chở đến khu vực Xóm Cthuộc thị trấn PRC để tìm mua ma túy. Tại đây, Ch đã mua ma túy của người thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch. Khi quay trở lại vị trí người xe ôm đang chờ để chở Ch về thì bị lực lượng công an bất ngờ kiểm tra. Do lo sợ nên Ch đã dùng tay phải ném 02 đoạn ống hút nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu, kích thước giống nhau khoảng 01 cm x 02 cm, bên trong 02 đoạn ống hút nhựa màu xanh có chứa chất rắn dạng nén (được niêm phong trong phong bì ký hiệu 01 gửi giám định được định danh là mẫu M) xuống mặt đường cách hai mũi bàn chân chỗ Ch đang đứng khoảng 0,5 mét, gần chỗ người xe ôm đang đứng chờ. Tại bản kết luận bản kết luận giám định về ma túy số 401/KL-KTHS ngày 07/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1604 gam, là Heroine (Heroin).

Xét thấy, bị cáo Lâm Văn Ch là đối tượng nghiện ma túy, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng Ch cá nhân, ngoài ra không có mục đích nào khác. Vì vậy, Cáo trạng số: 68/CT-VKSTP-HS ngày 13/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP, truy tố bị cáo Lâm Văn Ch về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và mức hình phạt:

Ma tuý là chất gây nghiện đã được ghi nhận trong danh mục các chất ma túy do Chính Phủ ban hành và quản lý. Việc tàng trữ trái phép chất ma túy là xâm hại đến chế độ quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển bền vững của xã hội. Ma túy là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, các căn bệnh thế kỷ, làm lây truyền vi rút gây bệnh khó chữa, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù biết rõ tác hại của ma túy cũng như mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng bị cáo vẫn coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng Ch bản thân.

Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để có đủ thời gian cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích Ch xã hội đồng thời để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật hình sự Việt Nam.

Các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét chiếu cố khi xử lý, để giảm nhẹ Ch bị cáo một phần trong mức hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 02 đoạn ống nhựa màu xanh đã cắt lấy mẫu cùng 0,1359 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 401.

Là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/6/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện TP và Chi cục thi hành án dân sự huyện TP).

Đối với người chạy xe ôm tên Nguyễn Tư, sinh năm 1953, nơi cư trú: Khu phố PT, thị trấn PRC, huyện TP, tỉnh Bình Thuận, do không biết việc bị cáo Ch đi tìm mua ma túy và cũng không biết việc Ch cất giấu ma túy trong người nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với người thanh niên đã bán ma túy Ch Lâm Văn Ch ở khu vực xóm Cthuộc Khu phố MT2, thị trấn PRC, huyện TP do chưa rõ nhân thân lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với nhận định như trên, nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2] Tuyên bố: Bị cáo Lâm Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[3] Xử phạt: Bị cáo Lâm Văn Ch mức án 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

[4] Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 02 đoạn ống nhựa màu xanh đã cắt lấy mẫu cùng 0,1359 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 401.

Là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/6/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện TP và Chi cục thi hành án dân sự huyện TP).

[5] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lâm Văn Ch phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo Lâm Văn Ch có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14-7-2023).

Án xử công khai có mặt bị cáo./.

Cỡ chữ