- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Chờ - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G- TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2023/HS-ST Ngày 27/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Minh Nguyệt;
Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đăng Đán và ông Nguyễn Đình Kiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Cường, Thẩm tra viên Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G: Bà Vũ Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 27/9/2023, điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân huyện G mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 64/HSST ngày 08/9/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/QĐXXHS-ST ngày 11/9/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình Ch, sinh năm 1966; hộ khẩu thường trú: Thôn HV, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; học phổ thông: 7/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T, đã chết và bà Nguyễn Thị Q, đã chết; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo thứ tư; vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1965; con: có 02 con, sinh năm 1991 và 1995; không tiền sự.
Tiền án: Bản án số 41/2014/HSST ngày 17/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo 60 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999. Phạt bổ sung 10 triệu đồng. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Tuy nhiên đến nay bị cáo chưa chấp hành hình phạt bổ sung.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại trại tam giam công an tỉnh Bắc Ninh; Có mặt tại phiên tòa là điểm cầu Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 50 phút ngày 27/6/2023, tại địa phận thôn P, xã QP, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Tổ công tác công an xã QP phát hiện Nguyễn Đình Ch đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất ma túy có khối lượng 0,1106 gam; loại ma túy Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Do bị cáo nghiện chất ma túy và có nhu cầu sử dụng nên khoảng 12 giờ 30 phút này 27/6/2023, bị cáo một mình đi bộ từ nhà ra đường tỉnh lộ 282 rồi đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đến khu vực thôn P, xã QP, huyện G, tỉnh Bắc Ninh để mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, bị cáo xuống xe, đi bộ thì gặp một người đàn ông không quen biết trông giống người nghiện đang đứng ở đường. Nên bị cáo bảo anh ta mua hộ gói ma túy và đưa cho anh ta 100 nghìn đồng. Người đàn ông cầm tiền của bị cáo và dặn bị cáo đứng đợi anh ta. Khoảng 10 phút sau người đàn ông quay lại và đưa cho bị cáo 01 gói ma túy được bọc ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ. Bị cáo cầm gói ma túy vừa mua được ở lòng bàn tay trái và đi bộ về nhà, còn người đàn ông đi đâu không rõ. Khi bị cáo đang đi bộ trên đường thì bị lực lượng công an xã QP bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nhỏ được bọc ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột màu trắng.
Kết luận giám định số 1394/KL – KTHS ngày 29/6/2023 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Chất bột màu trắng bên trong gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ có khối lượng là 0,1106 gam là ma túy, loại ma túy Heroine.
Cáo trạng số: 47/CT-VKSGB, ngày 08/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa, buộc tội bị cáo về tội đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Ch từ 17 đến 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.
Bị cáo nhận tội, thừa nhận hành vi như Cáo trạng và Bản luận tội; không tham gia tranh luận với Viện kiểm sát mà xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện trong vụ án này đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp biên bản phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng và vật chứng thu được có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 12 giờ 30 phút ngày 27/6/2023, tại thôn P, xã QP, huyện G, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Nguyễn Đình Ch có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói nhỏ được bọc ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong chứa chất ma túy có khối lượng 0,1106 gam, loại ma túy heroin, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị công an xã QP, huyện G bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm hình sự khác. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo có 01 tiền án về hành vi mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy, lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS nhưng không rút ra bài học mà vì muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo vẫn thực hiện chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Tội phạm bị cáo thực hiện là nghiêm trọng nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đồng thời tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Bị cáo có thời gian tham gia quân đội bảo vệ tổ quốc. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS. Tuy nhiên, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, mắc nghiện ma túy không có việc làm, không có thu nhập ổn định, hình phạt bổ sung của bản án trước hiện bị cáo vẫn chưa chấp hành xong nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Ch ngày 27/6/2023 tại thôn P, xã QP, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nào khác của người đàn ông nói trên nên cơ quan điều tra công an huyện G chưa có đủ căn cứ để điều tra làm rõ. Khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Vật chứng của vụ án gồm: Số ma túy còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc tội bị cáo về tội đã truy tố, đề nghị mức hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Ch 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 27/6/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư mặt sau có chữ ký của giám định viên và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Ninh, mặt trước của phong bì ghi: Cơ quan CSĐT – CAH G mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ Nguyễn Đình Ch, SN 1966, HKTT: HV, thị trấn G, G, Bắc Ninh, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau phong bì có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, chữ ký của giám định viên và thành phần tham gia niêm phong.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/9/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện G và Chi cục Thi hành án dân sự huyện G.
3. Án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo Nguyễn Đình Ch phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án, VKS tỉnh Bắc Ninh; - VKS và Chi cục THADS huyện G; - Cán bộ thi hành án hình sự; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Thị Minh Nguyệt |