- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kpă K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Kpă K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2023/HS-ST Ngày 14 – 9 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Toan; Ông Trần Hữu Linh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Năng Quân là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Hoàng - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Kpă K, sinh năm 1997, tại tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Thôn K, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 02/12; dân tộc: Gia rai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Siu T, sinh năm 1971 và bà Kpă T, sinh năm 1971; Bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ ngày 05 tháng 6 năm 2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam, có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Siu T, sinh năm 1971
Trú tại: Thôn K, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, vắng mặt
- Người làm chứng: Ông Nông Văn C, sinh năm 1997, vắng mặt
Trú tại: Thôn 5A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 05 tháng 6 năm 2023, Kpă K điều khiển xe mô tô mang BKS 81S1–168.05 (Của ông Siu T) đi từ nhà thuộc thôn K, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai đến khu vực đoạn đường thuộc thôn 1A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lăk mua của một người đàn ông, không rõ nhân thân lai lịch 500.000đ tiền ma túy (Heroin) để sử dụng. Mua xong, Kpă K điều khiển xe mô đến khu vực nghĩa địa thôn 1A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, thì bị Tổ công tác – Công an huyện E, tỉnh Đắk Lắk kết hợp với Công an xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk phát hiện bắt quả tang và thu giữ trên người Kpă K 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất rắn màu trắng. Kpă K khai nhận đó là ma túy (Heroin) mà K mua để sử dụng.
Bản kết luận giám định số 709/KL - KTHS ngày 13 tháng 6 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là Ma túy, có khối lượng là 0,5137 gam, loại ma túy là heroine.
Bản cáo trạng số 55/CT – VKS – HS ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy’’ theo điểm c khoản Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của bản Kết luận điều tra và bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Kpă K từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,4021 gam heroin còn lại sau khi giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật. Chấp nhận Cơ quan CSĐT – Công an huyện E, tỉnh Đắk Lắk đã trả lại chiếc xe mô tô mang BKS 81S1 – 168.05 cho ông Siu T.
Bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp để sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện E, tỉnh Đắk Lắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận rằng bị cáo là người nghiện ma túy. Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 05 tháng 6 năm 2023, tại khu vực nghĩa địa thôn 1A, xã E, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk khi bị cáo chuẩn bị sử dụng ma túy, thì bị bắt và thu giữ trên người 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất rắn màu trắng. Theo kết luận của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk thì chất rắn màu trắng thu giữ của bị cáo là ma túy, có tổng khối lượng là 0,5137 gam. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm, hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những xâm hại đến những quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự trị an trong xã hội. Mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực để nhận thực được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là trái với quy định của pháp luật. Song xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của bản thân nên ngày 05 tháng 6 năm 2023, bị cáo tàng trữ 0,5137 gam heroin để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì vậy đòi hỏi pháp luật phải có biện pháp trừng trị thích đáng đối với bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định. Có như vậy mới đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật và xã hội có phần hạn chế, do đó Hội đồng xét xử áp dụng để giảm cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội không vì mục đích lợi nhuận và có hoàn cảnh khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng:
Đối với 0,4021 gam heroin còn lại sau khi giám định, đựng bên trong 01 bì thư đã niêm phong là vật cấm tàng trữ, mua bán, lưu hành và xét thấy không còn giá trị sử dụng do đó tịch thu, tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô mang BKS 81S1 – 168.05 là tài sản của ông Siu T. Khi bị cáo lấy đi sử dụng vào việc phạm tội, ông Siu T không biết nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện E, tỉnh Đắk Lắk trả lại cho ông Siu T là đúng với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, hiện nay chưa xác minh được nhân thân lai lịch do đó không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự.
Áp dụng các Điều 106; 331; 333; 337 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Kpă K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Kpă K 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 6 năm 2023.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,4021 gam heroin còn lại sau khi giám định (01 bì thư được niêm phong số 709/KL – KTHS).
(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận lưu hồ sơ vụ án).
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Siu T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện E, tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo; - Ông Siu T; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk; - Công an huyện E, tỉnh Đắk Lắk; - Chi cục THADS huyện E, Đắk Lắk; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) ĐỖ VĂN DŨNG |