- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 66/2023/HS-ST Ngày: 06/02/2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Khải.
Ông Vũ Văn Tám.
- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hòa - Thư ký Toà án nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên.
- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thu Phƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 2 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2022/TLST- HS ngày 23 tháng 12 năm 2022 theo Q định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2023/QĐXXST- HS ngày 27 tháng 01 năm 2023 đối với Bị cáo:
1. Bị cáo: Hà Văn H; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1965, tại Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn TH, xã TH1, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn Q (đã chết); Con bà: Lê Thị C (đã chết); Bị cáo có vợ là Vũ Thị H1; sinh năm 1964 (Đã ly hôn năm 2004). Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 1994. Tiền án: không. Tiền sự: Không. Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/10/2022 sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Hà Mạnh Q; sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn T H, xã TH1, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 25/10/2022, Hà Văn H đang ở nhà tại Thôn TH, xã TH1, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên có hỏi mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1-878.43 của con trai là Hà Mạnh Q ở cùng nhà để đi ăn sáng và xin Q 80.000 đồng để đi ăn sáng. Khi đi Bị cáo mang theo 80.000 đồng, Bị cáo điều khiển xe ra khu vực chợ xã TH1 để ăn sáng, sau đó Bị cáo đi xe mô tô đó đến Trung tâm y tế xã TH1, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên để uống thuốc Methadone, sau khi Bị cáo uống thuốc Methadone xong, Bị cáo điều khiển xe mô tô đến khu vực bản HLC, xã TH1, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực bản HLC, xã TH1, Bị cáo có gặp Lò Văn T, sinh năm 1964, Nơi thường trú: Bản HLC, xã TH1, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên đang đứng ở ngoài đường, Bị cáo dừng xe và T có hỏi Bị cáo: “Có mua Heroine không?” Bị cáo trả lời: “Có, bán cho 60.000 đồng”. Sau đó Bị cáo đưa tiền cho T, T nói với Bị cáo “ Đứng ở đây chờ”. Khoảng 30 phút sau quay lại đưa cho Bị cáo 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng mảnh giấy màu trắng gấp vuông bên trong có các cục bột Heroine. Bị cáo cầm gói Heroine vừa mua được trên tay phải rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Đang trên đường đi về thuộc khu vực Bản HLC, xã TH1, huyện ĐB thì bị Tổ công tác Công an xã TH1 và Đồn biên phòng TL kiểm tra, thu giữ tại tay phải của Bị cáo 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng mảnh giấy màu trắng gấp vuông, bên trong là Heroine. Tổ công tác tiếp tục kiểm tra chiếc xe mô tô Bị cáo đang đi thì phát hiện trong cốp xe mô tô có 01 Giấy phép lái xe số: 0053203 mang tên Hà Văn H; 01 Căn cước công dân mang tên Hà Văn H; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô, xe máy đều mang tên Hà Mạnh Q. Tổ công tác mời người chứng kiến đến rồi tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và đưa Bị cáo cùng toàn bộ hồ sơ vật chứng về UBND xã TH1 để làm việc. Sau khi hoàn tất thủ tục tổ công tác Công tác xã TH1 đã bàn giao Bị cáo cùng toàn bộ hồ sơ vật chứng cho Cơ quan CSĐT Công an huyện ĐB để điều tra làm rõ.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 25/10/2022 đã xác định: Số cục bột màu trắng nghi Heroine thu giữ của Hà Văn H có khối lượng là 0,25 gam, gửi toàn bộ giám định, hoàn lại sau khi giám định là 0,18 gam.
Tại bản kết luận giám định số: 1409/KL-KTHS ngày 01/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Hà Văn H gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số: 13/CT-VKSĐB ngày 23/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Hà Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên Q định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Bị cáo: Từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy gồm: 0,18 gam Heroine hoàn lại sau giám định.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1- 878.43 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Hà Mạnh Q; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS mang tên Hà Mạnh Q thu giữ của Bị cáo. Quá trình điều tra xác minh chủ sở hữu hợp pháp là anh Hà Mạnh Q, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn TH, xã TH1, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên. Việc Bị cáo dùng chiếc xe mô tô và các giấy tờ trên mang tên anh Q trên vào việc phạm tội, anh Q không biết. Đề nghị HĐXX trả lại chiếc xe mô tô và các giấy tờ trên cho chủ sở hữu là anh Hà Mạnh Q.
Đối với 01 Căn cước công dân và 01 Giấy phép lái xe mang tên Hà Văn H thu giữ của Bị cáo. Quá trình điều tra Bị cáo khai không sử dụng vào việc trao đổi mua bán ma túy. Đề nghị HĐXX trả lại cho Bị cáo.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội kH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về phần luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB.
Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Bị cáo Hà Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, Biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 25/10/2022 tại khu vực bản HLC, xã TH1, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên, Hà Văn H đã có hành vi cất giấu trái phép tại tay phải của Bị cáo 0,25gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
...c)....Heroine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.
Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của Bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Bản thân bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra tại Thái Bình, đến năm 1978 cùng gia đình lên sinh sống tại Thôn TH, xã TH1, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên, bản thân không đi học ở nhà làm phụ giúp gia đình. Năm 1985 kết hôn với bà Vũ Thị Hợp, sinh năm 1964 và có 03 người con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1994. Đến năm 2004 ly hôn với bà Vũ Thị Hợp. Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2000 cho đến ngày bị bắt.
Ngày 25/10/2022 Bị cáo bị Tổ công tác công an xã TH1 và Đồn Biên Phòng xã TL bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, Cơ quan CSĐT-Công an huyện ĐB ra Q định khởi tố Bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với Bị can theo quy định của pháp luật.
Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với Bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự:
“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của Bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của Bị cáo là làm ruộng, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,18 gam Heroine vật chứng còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1- 878.43 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Hà Mạnh Q; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS mang tên Hà Mạnh Q thu giữ của Bị cáo. Quá trình điều tra xác minh chủ sở hữu hợp pháp là anh Hà Mạnh Q; địa chỉ: Thôn TH, xã TH1, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên. Việc Bị cáo dùng chiếc xe mô tô và các giấy tờ trên mang tên anh Q trên vào việc phạm tội, anh Q không biết. Vì vậy HĐXX thấy rằng cần trả lại chiếc xe mô tô và các giấy tờ trên cho chủ sở hữu hợp pháp anh Hà Mạnh Q là cần thiết.
Đối với 01 Căn cước công dân và 01 Giấy phép lái xe mang tên Hà Văn H thu giữ của Bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo khai không sử dụng vào việc trao đổi mua bán ma túy. HĐXX thấy rằng cần trả lại cho Bị cáo là cần thiết.
Các vấn đề khác:
Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ do Bị cáo mua của Lò Văn T, sinh năm 1964, trú tại Bản HLC, xã TH1, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã tiến hành lấy lời khai và đối chất, Lò Văn T không thừa nhận hành vi đã bán trái phép chất ma túy cho Hà Văn H, bản thân Bị cáo cũng không có chứng cứ gì chứng minh việc Lò Văn T đã bán ma túy cho Bị cáo mà chỉ dựa vào lời khai của Bị cáo là không đủ tài liệu chứng cứ để chứng minh làm rõ. Vì vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện ĐB, tỉnh Điện Biên và Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên không đề cập xử lý trong vụ án này. Vì vậy HĐXX không xem xét xử lý.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Q định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về sự vắng mặt của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hà Mạnh Q. Xét thấy tại phiên toà ngày hôm nay Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong quá trình điều tra Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST
Về kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Q ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn H phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt Bị cáo: 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (25/10/2022).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy gồm: 0,18 gam Heroine hoàn lại sau giám định.
* Trả lại cho Bị cáo gồm: 01 Giấy phép lái xe số: 0053203 mang tên Hà Văn H của Sở giao thông tỉnh Lai Châu cấp ngày 24/9/1998. Tình trạng cũ đã qua sử dụng; 01 Căn cước công dân số: 034065016506 mang tên Hà Văn H do Cục CSQLHVC về TTXH cấp ngày 16/8/2021. Tình trạng cũ đã qua sử dụng.
* Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh: Hà Mạnh Q; Địa chỉ: Thôn Thanh Hòa, xã TH1, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên gồm: 01 chiếc xe mô tô, xe máy biển kiểm soát: 27B1- 878.43; Nhãn hiệu: HONDA; Màu sơn: Xanh Đen, Bạc; Số loại: WAVEα; Dung tích: 109; Số máy: JA39E- 0995772; Số khung: RLHJA3911KY138570. Xe có cắm 01 chìa kH. Tình trạng xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra máy móc bên trong; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 127265 mang tên Hà Mạnh Q. Phòng CSGT Công an tỉnh Điện Biên cấp ngày 03/5/2019. Tình trạng cũ đã qua sử dụng; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô, xe máy số: AA21/1540133 mang tên Hà Mạnh Q của Công ty cổ phần bảo hiểm cấp ngày 18/4/2021. Tình trạng cũ đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/12/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện ĐB và Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐB, tỉnh Điện Biên).
3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội kH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người CQLNVLQ; - Nhà tạm giữ CAHĐB; - VKSND H. Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - CQCSĐT CAHĐB; - Hồ sơ THA hình sự; - Chi cục THADS HĐB; - Toà án ND tỉnh Điện Biên; - Bộ phận HSNV C.an HĐB; - Lưu hồ sơ vụ án; - Sở tư pháp; - Lưu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |