vanban.org

Bản án 66/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 26/07/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo La Văn TH phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm”.

Giao bị cáo La Văn TH cho Ủy ban nhân dân xã BA, huyện LB, tỉnh TQ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố bị cáo La Văn Thành phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm”. - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo La Văn TH phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2023/HS-PT
Ngày 26 tháng 7 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VP

- TH phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn M

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh T

Ông Nguyễn Huy C

-Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc L - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh VPtham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Ánh N - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh VPxét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 67/2023/TLPT-HS ngày 23 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo La Văn TH, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2023/HS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân TH phố V.

Bị cáo có kháng cáo:

La Văn TH, sinh năm 1988 tại tỉnh TQ; trú tại: thôn Tân Hoa, xã BA, huyện LB, tỉnh TQ; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; Dân tộc: Dao; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông La Tài M (đã chết) và bà Triệu Thị C; có vợ là Triệu Thị T và 02 con (nhỏ sinh năm 2012, lớn sinh năm 2008); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 15/11/2006, Công an huyện CH, tỉnh TQ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” với mức phạt 500.000đ. Ngày 10/9/2021, TH bị Công an xã T, huyện LB, tỉnh TQ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau”, với mức phạt tiền 750.000đ; đã nộp phạt xong ngày 08/10/2021. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo La Văn TH:

Bà Trần Thị N, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 9/2022, La Văn TH, Bàn Tiến C, Đặng Tài Pcùng nhau lên rừng lấy măng thì phát hiện có Rắn hổ chúa nên cả ba nảy sinh ý định bắt về để bán lấy tiền hoặc thịt ăn, ngâm rượu. Sau đó, TH, C, Pbắt được 03 con Rắn hổ chúa, cả ba thống nhất giao cho TH mang về nhà nuôi nhốt để xem có ai hỏi mua thì bán lấy tiền chia đều cho cả ba người.

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 24/10/2022, TH nhận được điện thoại của một nam giới sử dụng số điện thoại 0345552680 tự giới thiệu tên là S nhà ở TH phố V, tỉnh VP nói đang có nhu cầu mua 04 con Rắn hổ chúa để thịt và hỏi TH có bán không, TH trả lời hiện TH chỉ có 03 con, nếu muốn mua 04 con thì đợi một vài ngày nữa sẽ có. Hai bên thỏa thuận giá bán Rắn hổ chúa là 300.000đ/kg và thống nhất khi nào có đủ 04 con thì TH sẽ chủ động gọi điện lại cho S. Sau đó, TH đến gặp P và nói “Có khách ở thành phố V hỏi mua 03 Rắn hổ chúa của ba anh em mình bắt được với giá 300.000đ/kg”. P nói “Thế thì bán đi”.

Do vẫn thiếu 01 con Rắn hổ chúa để bán cho S nên sáng ngày 25/10/2022, TH một mình đi xe ô tô khách (không nhớ biển kiểm soát xe và nhân thân, lai lịch của người lái xe, người phụ xe) từ nhà đến khu vực chợ Bản Mèo thuộc xã H, huyện CH, tỉnh TQ để tìm mua. Tại đây, TH gặp một nam giới (không rõ tên, tuổi và địa chỉ) và hỏi mua Rắn hổ chúa thì nam giới này nói không mà đang có 01 con Rắn hổ mang phì (hay còn gọi là Rắn hổ mang Trung Quốc), trọng lượng khoảng 02 kg bán với giá 600.000đ, TH đồng ý mua và hẹn khoảng 07 giờ ngày 26/10/2022 gặp tại cổng chợ Bản Mèo để giao dịch. Khoảng 19 giờ cùng ngày, TH gọi điện thoại cho S và nói “Em đã có đủ 04 con Rắn, sáng ngày mai em sẽ mang xuống V bán cho anh”, S đồng ý và nói “Khi nào đến phường K thì gọi anh ra lấy”. Một lúc sau, P và C đến nhà TH rồi cả ba cùng ngồi ăn, uống rượu với nhau. Tại đây, TH trao đổi với P và C hiện đang có khách ở thành phố V hỏi mua 03 con Rắn hổ chúa với giá là 300.000đ/kg thì P và C đều đồng ý bán rồi thống nhất sáng hôm sau TH, Phú, C cùng chở 02 con trâu đến thành phố V thịt bán thì sẽ mang theo 03 con Rắn hổ chúa bán luôn. Sau đó, P gọi điện thoại cho anh Bàn Tiến H, sinh năm 1990 ở cùng thôn với P để thuê anh H sáng ngày 26/10/2022 lái xe ô tô chở TH, P, C mang theo trâu đến thành phố V để thịt bán, anh H đồng ý.

Khoảng 05 giờ ngày 26/10/2022, TH nhốt 03 con Rắn hổ chúa mỗi con vào 01 túi cước (02 túi cước màu trắng, 01 túi cước màu xanh) và đựng chung vào 01 bao tải xác rắn màu hồng rồi mang sang nhà C. Khi đến nơi, TH để bao tải đựng Rắn dưới sàn xe ô tô BKS: 22C - 060.43 tại hàng ghế sau vị trí TH và P ngồi. Sau đó, anh H điều khiển xe ô tô chở TH, P, C và chở theo 02 con trâu trên thùng xe phía sau đến thành phố V. Khi đến khu vực xã N, huyện CH, tỉnh TQ, TH bảo Hùng dừng xe lại rồi một mình xuống xe đi bộ đến khu vực cổng chợ Bản Mèo gặp nam giới đã hẹn từ trước. Tại đây, TH mua được 01 con Rắn hổ mang Trung Quốc đựng trong 01 túi cước màu trắng với giá 600.000đ. Quay lại xe, TH cất chung với bao tải xác rắn màu hồng đang đựng 03 con Rắn hổ chúa. Lúc này P và C đang ngủ nên không biết việc TH mua thêm Rắn. Sau đó, anh Hùng tiếp tục điều khiển xe ô tô đến thị trấn S, huyện SD, tỉnh TQ thì TH một mình xuống xe gặp 01 người nam giới (không rõ họ tên, tuổi và địa chỉ) lấy 05 con gà mang lên thùng phía sau xe để gửi cho khách rồi anh H tiếp tục điều khiển xe ô tô di chuyển đến thành phố V. Khi đến đường Quốc lộ 2B thuộc Tổ dân phố C, xã Đ, thành phố V thì Tổ công tác của Công an thành phố V kiểm tra hành chính, đã phát hiện và thu giữ tại vị trí dưới sàn xe ô tô ở hàng ghế sau nơi TH và P đang ngồi 01 bao tải xác rắn màu hồng bên trong có chứa 04 cá thể động vật còn sống nghi là loài Rắn hổ chúa và Rắn hổ mang Trung Quốc. TH, P, C đều khai nhận trong đó có 03 con Rắn hổ chúa là của TH, P và C cùng nhau bắt được và đang mang đi bán, còn lại 01 con Rắn hổ mang Trung Quốc là của TH vừa mua được và đang mang đi bán. Kiểm tra trên thùng phía sau xe ô tô phát hiện có 05 con gà và 02 con trâu còn sống. Tổ công tác tiến hành niêm phong 04 con Rắn nêu trên vào 01 bao tải xác rắn màu hồng theo đúng quy định pháp luật, ký hiệu A1 và tạm giữ 01 xe ô tô nhãn hiệu TRUONG GIANG, màu sơn trắng, BKS: 22C – 060.43 cùng các giấy tờ kèm theo xe.

Tại cơ quan điều tra, TH, C, P mỗi người đều tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO cũ, đã qua sử dụng.

Ngày 26/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V có Quyết định trưng cầu Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam giám định mẫu động vật được niêm phong trong 01 bao tải xác rắn ký hiệu A1. Cùng ngày, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật có Kết luận giám định động vật số 1592/STTNSV, kết luận:

“Xác định tên loài động vật:

03 (ba) cá thể động vật còn sống là loài Rắn hổ chúa có tên khoa học là Ophiophagus hannah, lớp Bò sát (reptilia).

01 (một) cá thể động vật còn sống là loại Rắn hổ mang Trung Quốc có tên khoa học là Naja atra, lớp Bò sát (Reptilia).

Xác định tình trạng bảo tồn theo quy định của pháp luật:

1. Loài Rắn hổ chúa có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loại nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính phủ.

2. Loại Rắn hổ chúa cũng có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP, ngày 22/9/2021 của Chính phủ.

3. Loài Rắn hổ mang Trung Quốc có tên trong nhóm IIB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP, ngày 22/9/2021 của Chính Phủ.”.

Ngày 23/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V có văn bản yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TH phố V định giá đối với 01 cá thể Rắn hổ mang Trung Quốc có tên khoa học là Naja atra, lớp Bò sát (Reptilia), còn sống, cân nặng 1,5kg. Tại kết luận định giá tài sản số 158/KL-HĐĐG ngày 29/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố V, kết luận: “01 (Một) cá thể Rắn hổ mang Trung Quốc có tên khoa học là Naja atra, lớp Bò sát (Reptilia), còn sống, cân nặng 1,5kg có trị giá 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng)”.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2023/HS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố V đã quyết định:

Tuyên bố La Văn TH, Đặng Tài P, Bàn Tiến C phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244; khoản 1 Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự 2015, xử phạt La Văn TH 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Các bị cáo C, P bị tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Ngoài ra bản án còn quyết định xử lý về vật chứng và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04 tháng 4 năm 2023, bị cáo La Văn TH có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo công nhận Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng tội danh, bị cáo không bị oan. Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh VP tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt mà sơ thẩm đã tuyên nhưng cho bị cáo hưởng án treo.

Người bào chữa cho bị cáo TH nhất trí về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo là hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật hạn chế, lần đầu phạm tội; bị cáo là lao động chính trong gia đình, bố bị cáo vừa chết để sửa án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.

Bị cáo La Văn TH nhất trí với ý kiến của người bào chữa, không tranh luận gì thêm và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo La Văn TH làm trong hạn luật định, hợp lệ được xem xét giải quyết.

Về tố tụng: Cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án đã đầy đủ, có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo La Văn TH đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án; với người liên quan và các kết luận giám định, tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 26/10/2022, tại đường Quốc lộ 2B thuộc tổ dân phố C, xã Đ, thành phố V, La Văn TH, Bàn Tiến C và Đặng Tài P đang có hành vi vận chuyển 03 cá thể Rắn hổ chúa (nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP, ngày 22/9/2021 của Chính phủ), đi bán trái phép thì bị Tổ công tác của Công an thành phố V phát hiện, kiểm tra, lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

Với hành vi nêu trên, Tòa án nhân dân thành phố V đã xét xử bị cáo La Văn TH về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm” theo khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo La Văn TH, Hội đồng xét xử thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, làm thay đổi sự bền vững của môi trường sinh thái, vi phạm Công ước Quốc tế về bảo vệ những loài động vật nguy cấp, quý, hiếm có nguy cơ bị tiệt chủng. Trong vụ án này bị cáo La Văn TH cùng đồng phạm tham gia săn bắt, trực tiếp nuôi nhốt và việc vận chuyển 03 con Rắn hổ chúa đi bán kiếm lời. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự 2015 là phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo phạm tội có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử bị cáo 01 năm 06 tháng tù là phù hợp. Trước khi phạm tội bị cáo có 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, tuy nhiên tính đến lần phạm tội này đều đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; quá trình điều tra và tại phiên tòa TH khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là công dân hỏa tuyến, tích cực tham gia kháng chiến chống giặc bảo vệ tổ quốc được Nhà nước ghi nhận; bị cáo là người dân tộc hiểu biết pháp luật hạn chế. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình tài liệu mới thể hiện gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nhiều năm là hộ nghèo; bố đẻ bị cáo và bố vợ bị cáo vừa chết; bị cáo là lao động chính trong gia đình, bản thân chấp hành đầy đủ quy định, hương ước nơi cư trú được chính quyền địa phương xác nhận. Mặt khác, hội đồng xét xử cũng xét thấy về hậu quả vụ án các con rắn bị cáo đem bán đã được thu giữ và bàn giao cho Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Do vậy, hội đồng xét xử thấy bị cáo có đủ điều kiện để hưởng chính sách khoan hồng và hưởng án treo, để bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh VPđề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo nhưng cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp, được chấp nhận.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo La Văn TH được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo La Văn TH, Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2023/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố V:

Tuyên bố bị cáo La Văn TH phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244; khoản 1 Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015, xử phạt La Văn TH 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo La Văn TH cho Ủy ban nhân dân xã BA, huyện LB, tỉnh TQ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo La Văn TH không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ