vanban.org

Bản án 66/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 10/04/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Thân Văn C.

Về nuôi con chung: Giao cháu Thân Quang T, sinh ngày 04/9/2015 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, anh Thân Văn C không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Thân Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10-4-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Minh Khánh

Bà Nguyễn Thị Bích

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân

tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2023/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐ-ST ngày 06/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24/3/2023 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh ngày 15/10/1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn A, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

2. Bị đơn: Anh Thân Văn C, sinh ngày 12/9/1990 (vắng mặt)

Họ khẩu thường trú: Thôn Q, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Hiện lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ).

Địa chỉ cuối cùng của anh C tại Việt Nam: Thôn Q, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn chị và anh Thân Văn C được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 08/4/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh C làm dâu, vợ chồng chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên vợ chồng thống nhất năm 2019 anh C đi lao động Đài Loan. Sau khi đi lao động vợ chồng vẫn hòa thuận nhưng từ cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian thuẫn vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Kể từ tháng 12/2020 đến nay chị và anh C không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Thân Văn C.

Về con chung: Chị và anh C có 01 con chung là Thân Quang T, sinh ngày 04/9/2015, hiện nay con chung đang sinh sống cùng chị. Sau khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Thân Văn C là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Tại biên bản làm việc ngày 20/02/2023 và 28/02/2023, ông Thân Văn Đ là bố đẻ anh Thân Văn C cung cấp:

Về hôn nhân: Anh C, chị H được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị H về nhà ông làm dâu và chung sống hòa thuận với gia đình nhà chồng. Kết hôn xong anh C, chị H cùng đi lao động tại Đài Loan. Sang Đài Loan một thời gian thì anh, chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh, chị nói là do bất đồng quan điểm sống. Ông có khuyên bảo anh, chị nhưng không được. Chị H hiện đã về nước sinh sống.

Về con chung: Anh, chị có 01 con chung là Thân Quang T, sinh ngày 04/9/2015. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng chị H.

Ngoài ra ông cho biết: Trước khi đi lao động tại Đài Loan anh C sinh sống cùng gia đình tại thôn Q, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi sang Đài Loan anh C vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Ông đã thông báo cho anh C biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa chị H và anh C, anh C cho biết: anh đồng ý ly hôn và giao con chung cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Nhưng anh C không cung cấp địa chỉ nơi làm việc, nơi ở và ý kiến bằng văn bản cho Tòa án được. Anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Cháu Thân Quang T trình bày: Hiện nay cháu đang sinh sống cùng mẹ tại nhà ông bà ngoại. Nếu bố mẹ cháu ly hôn cháu muốn ở với mẹ.

Tại phiên tòa, Chị Hoàng Thị H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Thân Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Hoàng Thị H; Biên bản làm việc với ông Thân Văn Đ bố đẻ của anh Thân Văn C và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị H.

Xử cho chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Thân Văn C.

Về con chung: Do anh C hiện nay đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Thân Quang T, sinh ngày 04/9/2015 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp: Chị Hoàng Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Thân Văn C và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Nên đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị H khởi kiện xin ly hôn anh C, anh C có hộ khẩu thường trú tại Thôn Q, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Tại Công văn số: 6860/QLXNC-P5 ngày 30/3/2023 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an cung cấp, anh Thân Văn C, sinh ngày 12/9/1990 đã xuất nhập cảnh 03 lần, xuất cảnh gần đây nhất ngày 11/9/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, anh C được xác định là đang ở nước ngoài. Mặt khác, anh C là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có một bên đương sự ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về sự vắng mặt đương sự:

Về sự vắng mặt của nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Căn cứ lời khai của nguyên đơn và ông Thân Văn Đ (bố đẻ anh C) Tòa án xác định được nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của anh C ở Việt Nam là: thôn Q, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho anh C thông qua gia đình và đề nghị gia đình anh C thông báo cho anh C biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa chị Hoàng Thị H và anh Thân Văn C. Ông Đ cho biết anh C vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh C không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh C tại Đài Loan. Nhận thấy, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H và anh Thân Văn C kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 08/4/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Thân Văn C.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hoàng Thị H với anh Thân Văn C. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị H và anh C chung sống hòa thuận đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Trong thời gian mâu thuẫn anh, chị chủ động nói chuyện để hàn gắn tình cảm nhưng không được. Khi hai bên gia đình biết chuyện đã khuyên bảo nhưng cũng không được. Kể từ tháng 12/2020 đến nay vợ chồng chị H, anh C không còn liên lạc, quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Do đó, cần xác định vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H và xử cho chị H và anh C được ly hôn là hoàn toàn phù hợp với Điều 51, Điều 53 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

. Về nuôi con chung: Chị H và anh C có 01 con chung là cháu Thân Quang T, sinh ngày 04/9/2015. Hiện nay con chung đang sinh sống cùng chị H và do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị H đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Xét yêu cầu nuôi con chung của chị H, Hội đồng xét xử thấy: Hiện nay anh C đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Con chung hiện nay đang do chị H trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, con chung phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Mặt khác, cháu Thắng trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn. Do đó, căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị H về nuôi con chung Thân Quang T. Giao con chung là cháu Thân Quang T, sinh ngày 04/9/2015 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp với thực tế và yêu cầu của chị H và nguyện vọng của con chung.

Sau khi ly hôn anh Thân Văn C có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh C thực hiện quyền này.

Trường hợp anh Thân Văn C về nước sinh sống, có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về tài sản, công nợ: Do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

. Về quyền kháng cáo:

Chị Hoàng Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng hiện đang ở trong nước nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Thân Văn C vắng mặt tại phiên tòa nhưng hiện đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Thân Văn C.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Thân Quang T, sinh ngày 04/9/2015 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, anh Thân Văn C không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở anh C thực hiện quyền này.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Thân Văn C chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000841 ngày 30/01/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Hoàng Thị H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Hoàng Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Anh Thân Văn C hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ