- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà D yêu cầu ly hôn với ông L"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Vũ Thị Phương D.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28-9-2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Châu Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Bằng
Bà Nguyễn Thị Kim Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Khuyến là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường B - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 246/ 2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Phương D, sinh năm 1976
HKTT: Đội 4, ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú hiện nay: Số 234, ấp P, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Mai Quốc L, sinh năm 1967
Địa chỉ: Đội 4, ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Bà D và ông L vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 02 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – bà Vũ Thị Phương D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị Phương D và ông Mai Quốc L quen biết, tìm hiểu yêu thương nhau khoảng 01 năm thì tự nguyện đi đến đăng ký hôn và được UBND xã G, huyện T cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 14/9/2015. Đây là hôn nhân lần thứ nhất hai của bà D.
Sau khi kết hôn thì vợ chồng cùng nhau sống chung tại nhà riêng của bà D tại đội 4, ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc, đầm ấm đến đầu năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn, bất hòa. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng thường tranh cãi về vấn đề kinh tế, chi tiêu trong gia đình. Ông L không lo làm ăn, không có công việc làm nên tất cả mọi vấn đề kinh tế trong gia đình đều do tôi gánh vác. Ông L thường xuyên uống rượu về nhà kiếm chuyện chửi bới vợ con dẫn đến vợ chồng tranh cãi, có lần còn xô sát nhau.
Rất nhiều lần vợ chồng đã nói chuyện với nhau để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông L không thay đổi, từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng.
Từ đầu năm 2021 đến nay vợ chồng không sống chung nhà với nhau, bà D và hai con đã chuyển về nhà cha mẹ đẻ tôi sống tại xã G, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai còn ông L vẫn sống tại nhà riêng của tôi. Kể từ đó đến nay vợ chồng không quan tâm đến nhau, không bàn bạc về đoàn tụ. Nay bà D xác định đã hết tình cảm với ông L nên tôi yêu cầu được ly hôn với ông Mai Quốc L.
Về con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung là cháu Mai Hoàng Đ, sinh ngày 22/10/2013 và cháu Mai Thiên P, sinh ngày 26/6/2015. Khi ly hôn bà D yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung. Tạm thời bà D không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Hiện nay nghề nghiệp của của bà D là buôn bán, thu nhập trung bình khoảng 10.000.000đ (mười triệu đồng), thực tế thu nhập như thế nào thì bà khai như vậy chứ không có bảng lương nộp cho Tòa án.
Về tài sản chung: Bà Vũ Thị Phương D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung, nợ riêng: Không có, bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo lời khai ngày 06 tháng 7 năm 2023, bị đơn – ông Mai Quốc L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị Phương D và ông Mai Quốc L quen biết, tìm hiểu yêu thương nhau khoảng 02 năm thì tự nguyện kết hôn và được UBND xã G, huyện T cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 14/9/2015. Đây là hôn nhân lần thứ hai của ông L.
Sau khi kết hôn vợ chồng cùng sống chung với nhau tại ấp Tây Nam, xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc, đầm ấm đến năm 2020 thì thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường cãi vã về tiền bạc, chi tiêu trong gia đình, bà D không rõ ràng trong vấn đề tiền bạc nên từ đó vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng.
Từ năm 2021 đến nay vợ chồng không sống chung nhà với nhau, bà D và hai con đã chuyển đi chỗ khác sinh sống. Kể từ đó đến nay vợ chồng không quan tâm đến nhau, việc ai nấy làm. Nay bà D yêu cầu ly hôn thì ông L không đồng ý vì ông theo đạo tôn giáo và ông vẫn mong muốn vợ chồng hàn gắn tình cảm để quay về đoàn tụ nhưng ông L không còn biện pháp để khuyên căn bà D về đoàn tụ.
- Về con chung: Ông L thừa nhận vợ chồng có hai con chung là cháu Mai Hoàng Đ, sinh ngày 22/10/2013 và cháu Mai Thiên P, sinh ngày 26/6/2015.
Đặt giả thiết Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông L đồng ý giao hai con chung cho bà D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời ông L không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Mai Quốc L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng cả nguyên đơn và bị đơn đều không đến tham dự (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do) nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Vũ Thị Phương D và ông Mai Quốc L được ly hôn.
+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Mai Hoàng Đ, sinh ngày 22/10/2013 và cháu Mai Thiên P, sinh ngày 26/6/2015 cho bà D được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời ông L không phải cấp dưỡng nuôi con do bà D không yêu cầu.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.
+ Về án phí: Bà Vũ Thị Phương D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn và tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chung với bị đơn, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo kết quả xác minh, hiện bị đơn đang cư trú tại xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng cả nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt (nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt). Căn cứ khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị Phương D và ông Mai Quốc L tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 14/9/2015, căn cứ Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đây được xem là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, nhận thấy: Bà D xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, mặc dù bà D và ông L trình bày không thống nhất với nhau về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng nhưng ông L và bà D đều thừa nhận vợ chồng đã không còn sống chung với nhau từ năm 2021 cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình; lời khai này phù hợp với kết quả xác minh ngày 10/7/2023 tại ban ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai:“... Quá trình chung sống với nhau vợ chồng bà D, ông L có xảy ra mâu thuẫn và bà D đã chuyển đi nơi khác sinh sống ...”. Xét mâu thuẫn giữa bà D và ông L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà D là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
Xét yêu cầu đoàn tụ của bị đơn: Ông L thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng nhưng ông không đồng ý ly hôn vì ông xác định vẫn còn tình cảm với bà D và ông mong muốn vợ chồng ông đoàn tụ. Tuy nhiên, ông L cũng khẳng định không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm với bà D. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải để kêu gọi vợ chồng về đoàn tụ nhưng bà D đều không có thiện chí hàn gắn tình cảm với ông L và ông L cũng không hợp tác đến Tòa án làm việc. Do đó, yêu cầu của ông L là không có cơ sở và không phù hợp với nhận định trên nên không được chấp nhận.
Về con chung: Bà D và ông L có một hai chung là cháu Mai Hoàng Đ, sinh ngày 22/10/2013 và cháu Mai Thiên P, sinh ngày 26/6/2015.
Xét yêu cầu của nguyên đơn, nhận thấy: Hiện con chung đang sống cùng với bà D và bà D đảm bảo điều kiện chăm sóc cho con chung. Ý kiến của bà D và ông L có trong hồ sơ vụ án đều thống nhất thỏa thuận giao hai con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, đây cũng chính là nguyện vọng của con chung. Do đó, để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của con trẻ, Hội đồng xét xử xét cần ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, tiếp tục giao hai con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng: Bà D hiện có nơi ở, công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc cho con chung. Mặc dù đã được Tòa án giải thích pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng bà D không yêu cầu nên tạm thời anh Tân không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà D và ông L đều xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp các đương sự không tự thỏa thuận và có yêu cầu thì được quyền liên hệ với Tòa án có thẩm quyền để khởi kiện bằng một vụ kiện khác về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn.
Về án phí: Bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Vũ Thị Phương D.
1. Về hôn nhân: Xử cho bà Vũ Thị Phương D và ông Mai Quốc L được ly hôn.
2. Về con chung:
2.1. Giao cháu Mai Hoàng Đ, sinh ngày 22/10/2013 và cháu Mai Thiên P, sinh ngày 26/6/2015 cho bà Vũ Thị Phương D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
2.2 Ông Mai Quốc L được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
2.3 Tạm thời ông Mai Quốc L không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Vũ Thị Phương D không yêu cầu.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Bà Vũ Thị Phương D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 0009258 ngày 28 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Bà Vũ Thị Phương D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Thống Nhất; - CC THADS huyện Thống Nhất; - UBND xã G, huyện T; (GCNKH số 01/2015) - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Châu Ngọc Hà |