- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Huỳnh Thị H xin ly hôn ông Trần Văn T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2023/HNGĐ-ST Ngày: 05/10/2023 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Lệ Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Đúng và ông Ngô Thái Lãm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bảo Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 187/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 54/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18/9/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm: 1992
Địa chỉ: khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm: 1989
HKTT tại: khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
Chỗ ở hiện nay: thôn B, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải nguyên đơn bà Huỳnh Thị H và bi đơn ông Trần Văn T thống nhất trình bày:
Quan hệ hôn nhân: bà Huỳnh Thị H và ông Trần Văn T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên vào năm 2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo bà H là do bất đồng quan điểm, hay kình cãi. Ông T thường xuyên nhậu nhẹt, cờ bạc, không chăm lo cuộc sống gia đình. Theo ông T, quá trình chung sống, đôi lúc ông có nhậu nhẹt nên vợ chồng có kình cãi; ngoài ra, do ông T phát hiện bà H ngoại tình nên ông T có đánh bà H vài lần. Ông T không có chứng cứ chứng minh bà H ngoại tình. Hiện nay hai bên đã sống xa nhau, không ai quan tâm ai. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà H xin ly hôn, ông T không đồng ý ly hôn.
Con chung: vợ chồng có hai con chung tên là Trần Nhật H, sinh ngày 14/4/2012 và Trần Huỳnh Bảo N, sinh ngày 09/9/2017. Hai cháu đang ở với bà H. Khi ly hôn, bà H và ông T thống nhất giao con chung cho bà H nuôi, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, không yêu cầu gì khác.
* Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H; về con chung: giao cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu H và N, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không xét. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về phần xin ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, tranh chấp về quyền nuôi con khi ly hôn với bị đơn ông Trần Văn T, trú tại: khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
Nguyên đơn bà H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2, nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông T.
Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân:
Bà H và ông T tự nguyện kết hôn vào năm 2012, được Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 63/2012, ngày 02/7/2012 là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp tính, quan điểm bất đồng nên thường xuyên kình cãi. Xét mâu thuẫn giữa bà H, ông T đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H.
Con chung: bà H và ông T có 02 con chung tên là Trần Nhật H, sinh ngày 14/4/2012 và Trần Huỳnh Bảo N, sinh ngày 09/9/2017 hiện do bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu H có nguyện vọng xin ở với bà H. Bà H và ông T thống nhất giao hai cháu H và N cho bà H nuôi, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Để đảm bảo cho hai cháu được ổn định chỗ ở, phát triển đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần, nên công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự.
Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xét.
Về án phí: nguyên đơn bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị H.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị H được ly hôn ông Trần Văn T.
[2] Về con chung: giao cho bà Huỳnh Thị H được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên là Trần Nhật H, sinh ngày 14/4/2012 và Trần Huỳnh Bảo N, sinh ngày 09/9/2017. Ông Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Trần Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[3] Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[4] Về án phí: bà Huỳnh Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0006935 ngày 20/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên, đã nộp đủ.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Phú Yên; - VKSND TX. Đông Hoà; - Chi cục THADS TX. Đông Hòa; - Các đương sự; - UBND xã H; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Lệ Hiền |