- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận mô ̣t phần yêu cầu khởi kiện của anh Phan Thanh T đối với anh Nguyễn Văn H, chị Huỳnh Thi ̣ C đối với số tiền 135.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 468 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2023/DSST Ngày 12-7-2023 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU,
TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Hạ;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đào Thi ̣ Lan;
2. Ông Trần Minh Châu.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thi ̣ Tuyết Mai, thư ký Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dương Minh Châu tham gia phiên tòa: Bà Lâm Phượng Tú, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm canh khai vụ án dân sự thụ lý số 236/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2023/QĐXX ngày 19 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Phan Thanh T, sinh năm 1987; nơi cư trú: Ấp XM, xã Tri B, huyện Châu Th, tỉnh Tây Ninh; có
́ mă ̣t.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1972; có mă ̣t.
Chị Huỳnh Thi ̣ C, sinh năm 1979; có mă ̣t.
Cùng nơi cư trú: Ấp Phướ c B 1, xã SĐ, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Người làm chứng: Anh Nguyễn Ch, ở ta ̣i ấp PhL, xa SĐ, Huyê ̣̃
n Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin vắng mă ̣t.
NHẬN THẤY:
Anh Phan Thanh T trình bày:
Qua người quen anh Nguyễn Ch giới thiệu, anh có cho vợ chồng anh H vay tiền nhiều lần, cụ thể:
Lần 1: Vào đầu năm 2021 (không nhớ cu ̣ thể ngày tháng): Vay 100.000.000 đồng, hai bên có làm giấy nợ do vợ chồng anh H ký tên vay, lãi 2.500.000 đồng/tháng/100.000.000 đồng. Tiền này vợ chồng anh H chưa trả gốc, tiền lãi đa trã ̉ đến ngày 19-11-2021.
Lần 2: Khoản 1-2 tháng sau lần vay trên: 50.000.000 đồng. Chi ̣ C nó i vay vài ngày nên nên lãi tùy chi ̣ C cho, hai bên không thỏa thuâ ̣n lãi. Chi ̣ C đa trả tiền gốc, lãi cho anh.̃
Lần 3: Khoảng 20 ngày sau lần vay thứ hai: 70.000.000 đồng. Chi ̣ C nói vay vài ngày nên lãi tùy chi ̣ C cho anh, hai bên không thỏa thuâ ̣n lãi. Lần vay này chi cỏ ́ mô ̣t minh chi ̣̀
C ký tên vay. Sau đó vài ngày thi chi ̣̀
C đa trả̃ đủ tiền lãi, trả gốc nhưng còn nợ la ̣i anh tiền gốc là 35.000.000 đồng.
Lần 4: Vào ngày 19-11-2021: Vay 50.000.000 đồng.
Cùng 19-11-2021, hai bên chốt nợ: Nợ cũ bao gồm nợ số tiền gốc đã vay lần 1 là 100.000.000 đồng, số tiền gốc 35.000.000 đồng còn nợ la ̣i của vay lần 3, vay mớ i ngày 19-11-21 là 50.000.000 đồng, tổng cộng 185.000.000 đồng. Hai bên tinh toá
́n hết nợ thi viết giầ
́y mượn tiền chốt số tiền gốc là 185.000.000 đồng, không có tiền lãi. Giấy nợ do anh viết, chi ̣ C, anh H thống nhất nên ký tên và ghi ho ̣ tên của mình trên giấy nợ. Do có giấy chốt nợ tổng cô ̣ng 185.000.000 đồng nên không có làm giấy nhâ ̣n nợ riêng của số tiền 50.000.000 đồng vay ngày 19-11-2021. Viê ̣c chốt nợ và vay thêm tiền ngày 19-11-2021 thi không cò
́ ai khác chứ ng kiến, nhưng trướ c khi tôi cho chi ̣ C, anh H vay tiền thi cò ́ nói ho ̣ điê ̣n thoa ̣i cho anh Nguyễn Ch hỏi xem anh Ch có đồng ý không (lý do anh yêu cầu viê ̣c này là do anh không biết vợ chồng chi ̣ C, anh Ch đồng ý thi anh mờ
́ i dám cho mượn tiền). Vi vâ ̣̀ y anh Ch có biết sự viê ̣c cho vay tiền.
Thờ i điểm chốt nợ ngày 19-11-2021 thi vợ̀ chồng anh H đa thanh toáñ đủ tiền lãi vớ i mứ c lãi 2.500.000 đồng/tháng/100.000.000 đồng. Sau đó thì vợ chồng anh H không trả gốc cho anh, chi trả
̉ được tiền lãi 03 lần: 5.000.000 đồng ngày 24-01-2022, 10.000.000 đồng ngày 29-12-2021 và 3.000.000 đồng không nhớ ngày tháng nhưng trong năm 2022, tổng cô ̣ng 18.000.000 đồng. Anh có nhâ ̣n từ chi ̣ C 50.000.000 đồng ta ̣i nhà anh Ch, nhưng số tiền 50.000.000 đồng này là tiền vay của lần thứ hai; không phải lần vay ngày 19-11-2021. Cuối năm 2022 anh có kiê ̣n vợ chồng chi ̣ C ta ̣i Tòa án Huyê ̣n Dương Minh Châu về số tiền 185.000.000 đồng nêu trên, sau đó rút đơn khở i kiê ̣n, lý do sau đó hai bên có cô ̣ng la ̣i thi tiền gồ
́c và tiền lãi lên đến hơn hai trăm triê ̣u.
Nay anh khở i kiê ̣n yêu cầu vợ chồng anh H, chị C trả số tiền 185.000.000 đồng và tiền lãi theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t 20%/năm tinh tứ
̀ ngày ký giấy nhâ ̣n nợ 19-11-2021 cho đến nay. Khoản tiền lãi anh đa nhâ ̣̃
n 18.000.000 đồng thi trừ ̀ vào tiền lãi còn nợ theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t.
Chi ̣ Huỳ nh Thi ̣ C trình bày:
Chị vay tiền của anh T hai lần:
Lần 1: Vào đầu năm 2021 (không nhớ cu ̣ thể ngày tháng): 100.000.000 đồng, có làm giấy nợ do vợ chồng chị ký tên vay, lãi 6.000.000 đồng/tháng/100.000.000 đồng. Tiền gốc này chưa trả, lãi trả đủ đến ngày chị vay tiền lần 2 của anh T.
Lần 2: Vay năm 2021, cách lần 1 khoảng 01 năm (không nhớ cu ̣ thể ngày tháng): Vay 50.000.000 đồng, có làm giấy nợ do vợ chồng chị ký tên vay, lãi 6.000.000 đồng/tháng/100.000.000 đồng.
Tổng cô ̣ng gốc 150.000.000 đồng thi mỗi tháng vợ chồng chị trả
̀
9.000.000 đồng tiền lãi. Hàng tháng vợ chồng chị có trả lai, nhưng do cõ
́ thờ i điểm làm ăn khó khăn nên lãi trả không đủ. Vi vâ ̣̀ y, vào ngày 19-11-2021 anh T mớ i làm giấy chốt nợ tổng tiền nợ gốc 150.000.000 đồng và nợ lãi là 35.000.000 đồng, tổng cô ̣ng thành 185.000.000 đồng. Sau đó chị có trả được tiền lãi 18.000.000 đồng như anh T khai. Vào khoảng cuối năm 2022, chị có trả 50.000.000 đồng tiền gốc cho anh T tại nhà anh Nguyễn Ch. Khi trả tiền không làm giấy tờ , không lấy giấy nợ, chỉ có anh Ch chứ ng kiến. Hai ngày sau, Tòa án Huyê ̣n Dương Minh Châu báo chị đến Tòa án do anh T kiê ̣n. Chị liền điê ̣n thoại báo anh T, anh T nói để ngày mai anh T lên Tòa án rút đơn.
Nay chị đồng ý trả tiền gốc còn la ̣i là 100.000.000 đồng, hiê ̣n hoàn cảnh khó khăn nên chị xin bỏ lãi.
Anh Nguyễn Văn H trinh bày:
̀
Anh thống nhất vớ i lờ i khai và quyết đi ̣nh của chi ̣ C.
Anh Nguyễn Ch trình bày:
Vợ chồng anh H là người bán nhà cho anh nên hai bên quen biết. Sau đó chị C cần tiền nên nhờ anh hỏi giúp, anh có giới thiệu với anh T. Anh T và vợ chồng anh H mỗi lần vay tiền có nói với anh nhưng chỉ nói cho biết chứ anh không có chứng kiến, trừ lần đầu tiên hai bên cho vay. Vào cuối năm 2022, chị C có trả anh T 50.000.000 đồng tại nhà của anh, lúc đó anh không có nhà, hai người có điện thoại nói anh biết việc này, khi trả tiền có mẹ anh ở nhà nên có nói lại cho anh. Do thời gian lâu, sự việc lại không liên quan nên anh không nhớ chi tiết, cũng không biết chính xác hai bên hiện còn nợ bao nhiêu tiền.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa. Đương sự thực hiê ̣n đúng quyền và nghia vu ̣̃
tố tu ̣ng theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 70, 71, 72 Bộ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử : Chấp nhâ ̣n mô ̣t phần yêu cầu khởi kiện của anh T đối với anh H, chị C.
Buộc anh H, chị C có trách nhiệm trả cho anh T số tiền nợ 135.000.000 đồng và tiền lãi theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t, xem xét khấu trừ số tiền lãi 18.000.000 đồng anh H, chị C đã trả cho anh T.
Không chấp nhâ ̣n yêu cầu của anh T về số tiền 50.000.000 đồng.
Về án phi: Đương sự́
chi ̣u theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Ch có đơn xin vắng mă ̣t, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh H, chị C thừa nhận vào ngày 19-11-2021 có chốt nợ với anh T với số tiền 185.000.000 đồng ngày 19-11-2021. Anh chị cho rằng trong số tiền này có 35.000.000 đồng tiền lãi nhưng tại giấy nợ không thể hiện có việc gộp lãi, anh chị không cung cấp được chứng cứ khác nên không có căn cứ chấp nhận.
Hai bên đương sự cũng thống nhất vào cuối năm 2022, chị C đã trả cho anh T 50.000.000 đồng. Chị C xác đi ̣nh chi ̣ trả tiền gốc, chi cỏ ̀n nợ 135.000.000 đồng, sau khi chị trả thì anh T rút đơn khởi kiện. Ban đầu anh T xác đi ̣nh chị C trả khoản nợ vay lần thứ hai vào đầu năm 2021; ta ̣i phiên tòa cho rằng là trả khoản nợ vay mớ i trong năm 2022 và tiền lãi của số tiền 185.000.000 đồng.
Xét thấy, về khoản nợ 50.000.000 đồng vay lần thứ hai vào đầu năm 2021 anh T đều khai sau khi vay vài ngày chị C đã trả xong gốc lãi; vì vậy tại giấy nợ ngày 19-11-2021 không có số tiền này. Nay anh la ̣i cho rằng 50.000.000 đồng anh đa nhận vào cuối năm 2022 là khoản nợ của lần vay thứ̃ hai vào đầu năm 2021 là không có căn cứ . Anh T cũng cho rằng khi anh khở i kiê ̣n chi ̣ C, anh H vào tháng 11-2022, lý do anh rút đơn khởi kiện là do tiền nợ chốt ngày 19-11-2021 không đúng, thực tế tiền nợ trên 200.000.000 đồng nhưng anh không tính toán được cụ thể số tiền, thờ i điểm khởi kiện lại thì vẫn xác định số tiền gốc là 185.000.000 đồng.
Ta ̣i phiên tòa sơ thẩm anh T la ̣i khai số tiền 50.000.000 đồng chi ̣ C trả cuối năm 2022 là trả lãi và nợ mớ i vay năm 2022 nhưng anh không xác đi ̣nh được cu ̣ thể từ ng khoản tiền. Do đó, lời khai của anh H, chị C về việc sau khi chốt nợ 185.000.000 đồng, đã trả được 50.000.000 đồng gốc là có căn cứ chấp nhận.
Về tiền lãi:
Hai bên đương sự đều thống nhất đến ngày 19-11-2021, khi hai bên chốt nợ thì anh H, chị C không còn nợ lãi. Từ ngày 20-11-2021 đến nay anh H, chị C trả được 18.000.000 đồng. Hai bên đương sự đồng ý khấu trừ số tiền lãi 18.000.000 đồng vào số tiền lãi phải trả.
Hai bên không xác đi ̣nh chính xác thờ i điểm chi ̣ C trả 50.000.000 gốc, nhưng xác đi ̣nh ta ̣i thờ i điểm anh T rút đơn khở i kiê ̣n, do đó xác đi ̣nh theo ngày anh T rút đơn kiê ̣n ngày 25-11-2022.
Do hai bên đương sự có tranh chấp về lãi, căn cứ khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, mức lãi suất 10%/năm (tức 0,83%/tháng):
Tiền lãi phát sinh kể từ ngày 20-11-2021 đến ngày 25-11-2022:
0,83%/tháng x 12 tháng 05 ngày x 185.000.000 đồng = 18.681.917 đồng (làm tròn).
Từ ngày 26-11-2022 đến ngày 12-7-2023:
0,83%/tháng x 07 tháng 18 ngày x 135.000.000 đồng = 8.515.800 đồng.
Khấu trừ vào 18.000.000 đồng tiền lãi đã nhận, còn nợ lại tiền lãi:
(18.681.917 đồng + 8.515.800 đồng) - 18.000.000 đồng = 9.197.717 đồng.
Như vâ ̣y, anh H, chị C có nghia vu ̣̃
trả cho anh T số tiền tổng cộng: 135.000.000 đồng + 9.197.717 đồng = 144.197.717 đồng.
Từ những phân tich trên, chấ
́p nhâ ̣n mô ̣t phần yêu cầu khởi kiện của anh T, chấp nhận đề nghi ̣ của Kiểm sát viên.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016:
Anh T phải chịu án phí đối với yêu cầu của anh không được Tòa án chấp nhận 50.000.000 đồng: 50.000.000 đồng x 5% = 2.500.000 đồng.
Anh H, chị C phải chịu án phí đối với yêu cầu của anh T được Tòa án chấp nhận: 144.197.717 đồng x 5% = 7.210.000 đồng (làm tròn).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 463, 465, 466, 468 Bộ luật Dân sự; Điều 147; 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận mô ̣t phần yêu cầu khởi kiện của anh Phan Thanh T đối với anh Nguyễn Văn H, chị Huỳnh Thi ̣ C đối với số tiền 135.000.000 đồng.
Không chấp nhâ ̣n yêu cầu của anh Phan Thanh T đối với số tiền 50.000.000 đồng.
1.1. Buộc anh Nguyễn Văn H, chị Huỳnh Thi ̣ C có trách nhiệm trả cho anh Phan Thanh T số tiền 144.197.717 (một trăm bốn mươi bốn triê ̣u một trăm chin mươi bảy nghin bảy trăm mườ i bảy) đồng (trong đó gốc
́
̀ 135.000.000 đồng, lãi 9.197.717) đồng.
1.2. Trường hợp bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì kể từ ngày 13-7-2022 cho đên khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Anh Phan Thanh T phải chịu 2.500.000 đồng, được khấu trừ vào 4.625.000 đồng số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0013403 ngày 09 tháng 5 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự Huyê ̣n Dương Minh Châu. Chi cục Thi hành án dân sự Huyê ̣n Dương Minh Châu hoàn trả cho anh Phan Thanh T 2.125.000 (hai triê ̣u một trăm hai mươi lăm nghin) đồng.
̀
2.2. Anh Nguyễn Văn H, chị Huỳnh Thi ̣ C phải chịu 7.210.000 đồng (bảy triê ̣u hai trăm mườ i nghin) đồng.
̀
3. Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mă ̣t được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND Huyện DMC; - CC THA Huyện DMC; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ TẠ THỊ HẠ |