vanban.org

Bản án 66/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tân An, tỉnh Long An Tuyên án 16/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Quốc T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Huỳnh Quốc T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Quốc T vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2022/HS-ST
Ngày: 16-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH LONG AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Nghiêm

Bà Nguyễn Thị Tĩnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Hường - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Huỳnh Quốc T, sinh năm 1984 tại Tiền Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Chổ ở hiện nay: ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Thành L (chết) và bà Trần Thị N (sống); vợ: Đinh Thị Hiền H và có 02 con lớn nhất sinh năm 2008 nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại: Châu Chí D, sinh năm: 1992 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Ông Châu Văn T, sinh năm: 1963 (cha ruột)

2. Bà Nguyễn Thị Kim S, sinh năm: 1964 (mẹ ruột)

Cùng địa chỉ: Ấp 1, xã B, huyện M, tỉnh Long An. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đinh Thị Hiền H, sinh năm: 1987

Nơi cư trú: ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Có mặt.

2. Bà Trần Thị Thu T, sinh năm: 1991

Nơi cư trú: Ấp H, xã A, thành phố T, tỉnh Long An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Quốc T có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, vào khoảng 22h ngày 22/5/2022 sau khi uống rượu (nồng độ cồn trong máu 171mg/100ml máu), T điều khiển xe mô tô biển số 63B4-514.04 chở vợ là Đinh Thị Hiền H, sinh năm: 1987 và con là Huỳnh Phát H, sinh năm: 2019 cùng ngụ: ấp H, xã H, huyện C, Tiền Giang lưu thông trên đường Châu Thị K theo hướng từ cầu Bà Lý

- phường 3, thành phố T. Khi đến trước nhà số 157 Châu Thị K, ấp V, A, thành phố T, T cho xe lấn sang bên trái đường để tránh vũng nước thì va chạm vào xe mô tô biển số 62T1-179.12 do Châu Chí D, sinh năm: 1992, ngụ tại: ấp 1, Bình Hòa Đông, Mộc Hóa, Long An đang điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại làm tai nạn xảy ra. Hậu quả Châu Chí D bị tử vong vào ngày 24/5/2022 tại bệnh viện đa khoa Long An do chấn thương sọ não nặng.

Tai nạn xảy ra vào lúc 22h30’ ngày 22/5/2022, tại biên bản khám nghiệm trường thể hiện: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn có kết cấu bê tông nhựa thông thoáng bằng phẳng rộng 07m áp dụng lưu thông hai chiều giữa đường có vạch kẻ sơn không liên tục mỗi chiều rộng 3,50m. Chọn mép phải đường Châu Thị K theo hướng từ phường 7 về cầu Bà Lý làm lề chuẩn (ký hiệu: C) và chọn trụ điện số 476 LA/23B nằm bên trái đường làm mốc hiện trường (ký hiệu: M). Thời điểm xảy ra tai nạn mặt đường ẩm ướt sau mưa.

Xe mô tô BS: 63B4-514.04 (ký hiệu: 1): trong trạng thái dựng chống nghiêng, đầu xe hướng phường 7 và lệch về bên phải, trục bánh trước cách (C) là 3,70m, trục bánh sau xe cách (C) là 2,70m.

Vết cày không liên tục (ký hiệu: 2): dài 1,60m, đầu vết cày cách trục bánh sau xe (1) là 0,52m và cách (C) là 3,12m, đầu còn lại của vết cày cách (C) là 3,10m.

Vết cày không liên tục (ký hiệu: 3): dài 1,20 m, đầu vết cày cách đầu gần nhất của vết cày (2) là 15,50 m và cách (C) là 2,60m, cuối vết cày trùng với vị trí tiếp xúc giữa gác chân trước phải xe mô tô BS: 62T1-179.12 và mặt đường.

Xe mô tô BS: 62T1-179.12 (ký hiệu: 4): trong trạng thái ngã về bên phải nằm trên mặt đường, đầu xe hướng về cầu Bà Lý và lệch về bên trái. Trục bánh sau xe cách (C) là 2,20m, trục bánh trước xe cách (C) là 3m và cách (M) là 8,10m (đo từ xe (4) về hướng phường 7).

Tại biên bản khám nghiệm xe liên quan đến tai nạn giao thông đã xác định các dấu vết sau:

Xe mô tô BS: 62T1-179.12: Ốp nhựa đầu xe bung gàm, vỡ phần dưới trái, mép phải ốp nhựa đầu xe có vết ma sát mài mòn; đầu tay cầm điều khiển bên phải có vết ma sát mài mòn, gãy tách rời đầu tay thắng; mép ngoài yếm chắn gió trước trái có vết ma sát mài mòn; cần sang số cong vênh, biến dạng chiều hướng từ trước ra sau; gác chân trước trái cong vênh, biến dạng chiều hướng từ trước ra sau, mất núm cao su; mép ngoài cảng gác chân sau trái có vết ma sát mài mòn, tạp chất sơn màu xanh bám dính; mép phải khung nâng xe sau có vết ma sát mài mòn; đầu gác chân sau phải có vết ma sát mài mòn; mép trước trên, dưới biển số xe có vết ma sát mài mòn.

Xe mô tô BS: 63B4-514.04: Mép phải ốp nhựa đầu đèn xe có vết ma sát mài mòn; vỡ mất hoàn toàn gương chiếu hậu hai bên; mép phải đầu chắn bùn trước xe có vết ma sát mài mòn; đầu tay thắng bên phải có vết ma sát mài mòn; mép phải yếm chắn gió trước xe có vết ma sát mài mòn; vỡ yếm chắn gió trước trái; vỡ ốp bệ gác chân bên trái; mép phải khung nâng xe sau có vết ma sát mài mòn.

Các xe đã trả cho chủ sở hữu.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 93/TT ngày 09/6/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế Long An kết luận nạn nhân Châu Chí D tử vong do chấn thương sọ não nặng. Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu tại Bệnh viện Đa khoa Long An ngày 22/5/2022 của Châu Chí D là: 206 mg/100ml máu.

Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu tại Bệnh viện Đa khoa Long An ngày 22/5/2022 của Huỳnh Quốc T là: 171 mg/100ml máu.

Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn bị cáo Huỳnh Quốc T đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại 150.000.000 đồng chi phí mai táng và tổn thất tinh thần cho đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện bị hại đã nhận đủ tiền và làm đơn bãi nại cho bị cáo T.

Đối với bà Đinh Thị Huyền H và cháu Huỳnh Phát H chỉ bị xây xát nhẹ, bà Huyên đã từ chối giám định và cam kết không khiếu nại gì về sau.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữa nguyên quan điểm truy tố bị cáo Huỳnh Quốc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra và căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho gia đình bị hại tiền chi phí đám tang, tổn thất tinh thần nhằm khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra, được đại diện gia đình bị hại làm đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, bị cáo có người thân là người có công với cách mạng, bị hại cũng có lỗi hành chính là điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông mà trong máu có nồng độ cồn. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt quy định. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; Điều 38, Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Quốc T từ 15 đến 18 tháng tù.

Về vật chứng: Đã xử lý xong.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại và người có nghĩa vụ liên quan nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

[3] Lời khai của bị cáo Huỳnh Quốc T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phù hợp với Bản kết luận giám định pháp y, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Huỳnh Quốc T có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, vào khoảng 22h ngày 22 tháng 05 năm 2022, bị cáo Tuấn điều khiển xe mô tô biển số 63B4-514.04 chở phía sau vợ là Đinh Thị Hiền H và con là Huỳnh Phát Huy lưu thông trên đường Châu Thị K theo hướng từ cầu Bà Lý - phường 3, thành phố T. Bị cáo điều khiển xe trong tình trạng có sử dụng rượu, bia, trong máu có nồng độ cồn là 171mg/100ml. Khi đến trước nhà số 157 Châu Thị K, ấp V, A, thành phố T, T cho xe lấn trái đường để tránh vũng nước thì va chạm vào xe mô tô biển số 62T1-179.12 do Châu Chí D đang điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại làm tai nạn xảy ra, hậu quả làm cho ông D bị thương nặng phải đi cấp cứu tại Bệnh viện, sau đó tử vong do chấn thương sọ não.

Hành vi nêu trên của bị cáo Huỳnh Quốc T đã vi phạm khoản 8 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đường bộ, làm chết một người đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Long An truy tố bị cáo Huỳnh Quốc T về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Đánh giá tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Quốc T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nước về trật tự, an toàn, giao thông đường bộ. Bị cáo có giấy phép lái xe và biết rõ các quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ nhưng không chấp hành nghiêm, khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, đã không chấp hành luật Giao thông đường bộ, đi không đúng phần đường quy định để xảy ra tai nạn, hậu quả làm chết một người, đã xâm phạm tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải xử nghiêm bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo

[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau tai nạn đã tích cực bồi thường toàn bộ phần trách nhiệm dân sự theo yêu cầu của gia đình bị hại để khắc phục hậu quả nhằm giảm một phần đau thương mất mát đối với gia đình bị hại. Trong quá trình điều tra được đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị không xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, con còn nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình phải làm thuê kiếm sống, bị cáo có ông nội là liệt sĩ. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để áp dụng đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như đã nói trên, có nhân thân tốt, có địa chỉ rõ ràng, thực hiện hành vi với lỗi vô ý, được đại diện hợp pháp bị hại đề nghị không xử lý hình sự. Tại nơi cư trú, bị cáo chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đủ điều kiện áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự, Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo, có thời gian thử thách cũng đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và cũng không ảnh hướng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì khác đối với bị cáo nên không đề cập.

Đối với bà Đinh Thị Huyền H và cháu Huỳnh Phát H, là người ngồi sau xe bị cáo. Khi tai nạn xảy ra bà H và cháu H chỉ bị xây xát nhẹ. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa không có yêu cầu và đề nghị gì nên không đề cập.

[7] Về xử lý vật chứng: 02 xe môtô biển số 62B4-514.04 và 62T1-179.12, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 41 Bộ luật Hình sự nên không đề cập.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Quốc T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Huỳnh Quốc T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Huỳnh Quốc T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: buộc bị cáo Huỳnh Quốc T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ