vanban.org

Bản án 66/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 25/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Sồng Thị D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Sồng Thị D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sồng Thị D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sồng Thị D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VÂN HỒ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2022/HS-ST.
Ngày: 25-7-2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Vương

Ông Quách Công Cầm

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hằng Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Vì Thị Dung- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2022/TLST- ST ngày 13 tháng 6 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2022/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 07 năm 2022, đối với bị cáo:

Sồng Thị D; tên gọi khác: Không, sinh năm 1973, sinh tại huyện V, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản P, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sồng A Ph (đã chết) và bà Thào Thị D (Không rõ năm sinh); bị cáo có chồng là Lầu A X (Đã chết) và 04 con, con lớn sinh năm 1993; con nhỏ sinh năm 2003; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Nhân thân: + Ngày 15/12/2008, TAND huyện M, tỉnh Sơn La áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 194, Điểm p Khoản 1 Điều 46, Điều 33 BLHS năm 1999, xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; chấp hành xong án phạt tù ngày 02/4/2014; chấp hành xong án phí HSST ngày 02/02/2009, chấp hành xong khoản truy thu ngày 07/8/2009.

+ Ngày 13/3/2017, TAND tỉnh Sơn La áp dụng Khoản 1 Điều 194, Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, Điểm g Khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999, xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong án phạt tù ngày 02/4/2019, chấp hành xong án phí HSST và HSPT ngày 24/4/2017.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 11/4/2022 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người phiên dịch cho bị cáo Sồng Thị D: Ông Sồng A P, sinh năm 1985; trú tại: Tiểu khu 10, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sồng Thị D, sinh năm 1973, trú tại: Bản P, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La là đối tượng nghiện chất ma túy. Khoảng 08h00’ ngày 11/4/2022, D đang đi bộ trên đường tỉnh lộ 102 thuộc địa phận Bản P, xã V, huyện V thì gặp một người phụ nữ không quen biết, D đã hỏi và mua của người đó được 01 túi nilon màu xanh, bên trong đựng 30 viên Hồng phiến (Methamphetamine) và 01 gói Heroine gói bằng nilon màu xanh với giá 500.000 đồng. Sau đó, D cầm túi Hồng phiến và gói Heroine ở bàn tay phải và đi bộ về nhà, trên đường về thì gặp tổ công tác Công an xã Vân Hồ phối hợp với Công an huyện V kiểm tra. Qua kiểm tra, D đã tự giác giao nộp túi Hồng phiến và gói Heroine cho tổ công tác và khai nhận đó là Hồng phiến và Heroine của D tàng trữ để sử dụng, do bản thân nghiện chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và dẫn giải Sồng Thị D cùng toàn bộ vật chứng bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V để điều tra, xử lý.

Ngày 11/4/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện V, Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã cùng Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành cân tịnh xác định khối lượng 30 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine và chất bột màu trắng nghi là Heroinethu giữ của Sồng Thị D, kết quả như sau:

- Số 30 viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 2,86 gam. Lấy 05 viên có khối lượng 0,48 gam làm mẫu giám định ký hiệu D.

- Số chất bột màu trắng có khối lượng 0,2 gam. Lấy toàn bộ 0,2 gam làm mẫu giám định ký hiệu D2.

Các mẫu ký hiệu D, D2 được bàn giao cho Giám định viên Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.

Tại kết luận giám định số 645 ngày 12/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu D là ma túy; loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,48 gam.Mẫu gửi giám định ký hiệu D2 là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,2 gam.Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 2,86 gam; loại Methamphetamine và 0,2 gam; loại Heroine”.

Cáo trạng số: 41/CT-VKS ngày 13/06/2022 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Sồng Thị D về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố Sồng Thị D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Sồng Thị D từ 36 (Ba mươi sáu) đến 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 2,38 gam Methamphetamine + vỏ gói + vỏ túi ban đầu + 02 vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma tuý của Sồng Thị D; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử thai đối với Sồng Thị D.

- Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên không có ý kiến tranh luận gì.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Lời khai của người chứng kiến, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ; thể hiện: Ngày 11/4/2022, Sồng Thị D đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,86 gam Methamphetamine và 0,2 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang. Căn cứ quy định tại Điều 4, Chương II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý tại một số Điều của Bộ luật Hình sự thì tổng khối lượng của các chất ma túy Methamphetamine và Heroinelà 2,86 + 0,2 = 3,06 gam. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Sồng Thị D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Tính chất hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Bản thân bị cáo đã nhiều lần bị kết án về tội ma túy tuy được xóa án tích nhưng là người có nhân thân xấu. Vì vậy, cần áp dụng mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Bị cáo Sồng Thị D đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 2,38 gam Methamphetamine + vỏ gói + túi ban đầu + 02 phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma tuý của Sồng Thị D; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử thai đối với Sồng Thị D là những vật cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc số ma túy: Sồng Thị D khai nhận đã mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết gặp tại địa phận Bản P, xã V, huyện V. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh điều tra. Buộc Sồng Thị D phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số ma túy đã bị thu giữ.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khóa khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

2. Tuyên bố bị cáo Sồng Thị D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Xử phạt bị cáo Sồng Thị D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 2,38 gam Methamphetamine + vỏ gói + túi ban đầu + 02 phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma tuý của Sồng Thị D; 01 phong bị niêm phong bên trong đựng que thử thai đối với Sồng Thị D

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 64/BBVC-CCTHA ngày 16/06/2022.

4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ