vanban.org

Bản án 66/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Tuyên án 26/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyªn bè: BÞ cáo Trần Quang C ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.

¸p dông điểm c khoản 1 Điều 249; ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51; ĐiÒu 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử ph¹t bị cáo C 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 03/5/2022. VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu để tiêu huỷ 0,0743gam (Khô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Quang C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyªn bè: BÞ cáo Trần Quang C ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2022/HS-ST
Ngày 26-8-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Trọng Thanh

2. Bà Trần Thị Thủy

- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H - tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Quang C, sinh năm 1992.

Nơi cư trú: thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang Th và bà Nguyễn Thị V; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/5/2022 đến ngày 06/5/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình “có mặt”.

Những người làm chứng:

1. Ông Vũ Văn Q, sinh năm 1961 (vắng mặt). Nơi cư trú: Thôn Trung Thượng, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

2. Ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1958 (vắng mặt). Nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ ngày 03/5/2022, tại khu vực đường đôi gần nhà hoang thuộc địa phận thôn Tam Đ, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; tổ công tác Công an huyện H phát hiện bắt quả tang Trần Quang C có hành vi tàng trữ trái phép 0,1148 gam ma tuý, loại Hêrôin. Khi tổ công tác yêu cầu kiểm tra, C tự nguyện giao nộp từ lòng bàn tay trái 02 gói ma túy được gói bằng mảnh giấy có chữ và số, mở kiểm tra bên trong cả 02 gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục. C khai nhận đó là ma túy Hêrôin cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác Công an huyện H tiến hành niêm phong 02 gói ma túy nói trên trước sự chứng kiến của những người làm chứng. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Quang C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không quản lý, thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Bản kết luận giám định số 149/KL-KTHS(MT) ngày 04/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng 0,1148 gam (Không phẩy một nghìn một trăm bốn mươi tám gam).

Bản Cáo trạng số 66/CT- VKSHH ngày 11/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa, bị cáo C thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản Cáo trạng.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 BLHS: Xử phạt bị cáo C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 03/5/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì còn nguyên niêm phong số 149/KLGĐMT - PC09 ngày 04/5/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình hoàn trả mẫu vật gửi giám định, trên mặt phong bì có ghi “Vật chứng thu giữ của Trần Quang C, sinh năm 1992, nơi cư trú: thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình”. Bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo C không tranh luận gì và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện H; Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục số 23, 24); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu (bút lục số 26); Bản kết luận giám định số 149/KL-KTHS(MT) ngày 04/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (bút lục số 29); lời khai những người làm chứng: ông Vũ Văn Q và ông Vũ Văn Đ (bút lục từ số 61 đến số 68). Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ ngày 03/5/2022, tại đoạn đường đôi gần nhà hoang thuộc địa phận thôn Tam Đ, xã T, huyện H; Trần Quang C có hành vi tàng trữ trái phép 0,1148 gam ma túy, loại Hêrôin, mục đích để sử dụng, bị Công an huyện H bắt quả tang. Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) …

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d)…

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực điều khiển hành vi của mình, nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, làm suy kiệt kinh tế gia đình, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của rất nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự xã hội. Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán…trái phép chất ma túy, nhưng do mắc nghiện ma túy nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo C không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt, cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo nói riêng và có tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Bị cáo tàng trữ ma túy, mục đích là để sử dụng cho bản thân, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy bị cáo C khai: Số ma tuý tổ công tác Công an huyện H thu giữ của bị cáo C vào ngày 03/5/2022 là do bị cáo gặp và mua của một người đàn ông khoảng 45 tuổi (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) ở khu vực ngã ba Bưu điện thị trấn Hưng Nhân, huyện H với giá 400.000 đồng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành điều tra, xác minh, ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu, chứng cứ nào khác, không xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho bị cáo nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng: 0,0743gam (Không phẩy không nghìn bẩy trăm bốn mươi ba gam) ma tuý, loại Heroine còn lại sau giám định thu của bị cáo C trong 01 phong bì niêm phong số 149/KL-KTHS (MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyªn bè: BÞ cáo Trần Quang C ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.

2. ¸p dông điểm c khoản 1 Điều 249; ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51; ĐiÒu 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử ph¹t bị cáo C 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 03/5/2022.

3. VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu để tiêu huỷ 0,0743gam (Không phẩy không nghìn bẩy trăm bốn mươi ba gam) ma tuý, loại Heroine còn lại sau giám định thu của bị cáo C trong 01 phong bì niêm phong số 149/KL-KTHS (MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình đang quản lý).

4. VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, bÞ c¸o C ph¶i nộp 200.000 đồng tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.

5. Về quyền kháng cáo: BÞ c¸o C cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n. * Nơi nhận:

Cỡ chữ