vanban.org

Bản án 66/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 19/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái T 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thái T phải có trách nhiệm bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Chu Văn H, bà Nguyễn Thị H, bà Chu Thị M số tiề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thai T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2022/HS-ST
Ngày: 19-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Nam.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Hữu Bình;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Phi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Thái T, sinh năm 1990, tại tỉnh Bình Dương; HKTT: Ấp A, xã D, huyện P, tỉnh Bình Dương; tạm trú: huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị P, vợ: Trương Thị thùy T; bị cáo có 01 con nhỏ sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/3/2022 (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2.2. Bị hại:

- Ông Chu Văn C, sinh năm 1948; HKTT: Ấp T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Dương (đã chết);

Người đại diện hợp pháp:

+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1952; HKTT: Ấp T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Dương (vợ bị hại). Có mặt.

+ Bà Chu Thị M, sinh năm 1976; HKTT: Ấp T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Dương (con bị hại). Có mặt.

+ Ông Chu Văn H, sinh năm 1977; HKTT: Ấp T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Dương (con bị hại). Có mặt.

2.3 Người làm chứng: Bà Trương Thị Thùy T. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Thái T có giấy phép lái xe hạng A1 số 740080003666, do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 10/7/2020.

Khoảng 19 giờ 35 phút ngày 08/01/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner màu xanh trắng, biển số 61H1-640.03, số máy KC26E1124694, số khung RLHKC2608GY091100 chở vợ là Trương Thị Thùy T đi từ khu công nghiệp Bàu Bàng trên đường DT 749A về nhà cha mẹ tại ấp A, xã Đ, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Khi đến đoạn đường thuộc ấp Thị Tính, xã Long Hòa, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương do không chú ý quan sát nên bị cáo đã điều khiển xe mô tô va chạm với bị hại Chu Văn C đang đi bộ qua đường (đi từ lề phải sang lề trái theo chiều di chuyển của xe mô tô). Hậu quả: Ông Chu Văn C được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương, đến ngày 09/01/2022 thì ông Cư chết.

Khi vụ tai nạn vừa xảy ra, một khoảng thời gian sau, ông Đoàn Cát A điều khiển xe mô tô biển số 61H1-562.23 đi từ hướng UBND xã Long Hòa đến hiện trường vụ tai nạn giao thông và xảy ra va chạm với xe mô tô 61H1-640.03 đang nằm trên đường làm xe và người ngã xuống đường, Đoàn Cát A bị thương nhẹ.

Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, hiện T để lại các dấu vết có chiều hướng, kích thước như sau:

- Hiện Trường bị xê dịch một phần do cấp cứu người bị nạn và do các phương tiện khác lưu thông ngang qua hiện Trường.

- Hiện Trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường nhựa, bằng phẳng, thẳng, tầm nhìn của lái xe không bị che khuất, chiều rộng mặt đường là 09m00, có vạch sơn kẻ đường nét đứt, phân hai chiều đường, mỗi chiều đường rộng 4m50.

- Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

+ (1) Vị trí vết máu thứ nhất,

+ (2) Vị trí vết máu thứ hai,

+ (3) Vị trí vết cày thứ nhất,

+ (4) Vị trí xe mô tô biển số 61H1-640.03,

+ (5) Vị trí vết cày thứ hai,

+ (6) Vị trí xe mô tô biển số 61H1-562.23.

+ (7) Vị trí trụ điện số 284.

- Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Lấy trụ điện số 284 trong lề phải hướng UBND xã L đi cầu Thị Tính làm điểm mốc chuẩn, lấy mép đường bên phải hướng UBND xã L đi cầu Thị Tính làm mép đường làm chuẩn.

Sau khi xảy ra tai nạn giao thông hiện T để lại các dấu vết như sau:

- Xe mô tô biển số 61H1-640.03 (2), ngã lật qua phải nằm trên mặt đường, đầu xe quay về hướng UBND xã L, hơi chếch vào lề chuẩn, hình chiếu vuông góc của đầu trục trước và đầu trục sau bên phải xuống mặt đường vào lề chuẩn là 4m40 và 4m90.

- Xe mô tô biển số 61H1-652.23 (5) ngã lật qua trái nằm trên mặt đường, đầu xe quay về hướng cầu Thị Tính, hơi chếch vào lề chuẩn, hình chiếu vuông góc của đầu trục trước và đầu trục sau bên trái xuống mặt đường vào lề chuẩn là 3m30 và 4m00.

- Từ trục trước xe mô tô biển số 61H1-640.03 đến trục sau xe mô tô biển số 61H1-562.23 là 0m50.

- Từ trục sau xe mô tô biển số 61H1-640.03 đến trục trước xe mô tô biển số 61H1-562.23 là 1m65.

- Trên mặt đường có hai vết máu. Vết máu thứ nhất (1) kích thước dài 0m65 rộng 0m50, đầu vết cách lề chuẩn là 3m90, cuối vết cách lề chuẩn là 3m90. Vết máu thứ hai (2) có kích thước dài 2m70, rộng 0m30, đầu vết cách lề chuẩn là 4m50, cuối vết cách lề chuẩn là 4m90.

- Từ cuối vết máu thứ nhất đến đầu vết máu thứ hai là 1m50.

- Trên mặt đường có hai vết cày, vết cày thứ nhất (3) kéo dài đến đồ gác chân trước bên phải xe mô tô biển số 61H1-640.03 kích thước dài 4m00, rộng 0m01, đầu vết cày cách lề chuẩn là 4m10, vết cày thứ 2 (5) kéo dài đến đồ gác chân trước bên trái xe mô tô 61H1-562.23, kích thước dài 1m00, rộng 0m01, đầu vết cày cách lề chuẩn là 3m40.

- Từ đầu vết cày thứ nhất đến đầu vết cày thứ hai là 3m30.

- Từ trụ điện số 284 (7) đến trục trước và trục sau xe mô tô biển số 61H1-562.23 là 29m20 và 30m30.

Khám nghiệm các dấu vết liên quan đến vụ tai nạn giao thông để lại trên xe mô tô biển số 61H1-640.03: Sườn phải dè chắn bùn bánh trước có vết nứt, vỡ kích thước 0m03 x 0m02; mặt ngoài bên trái vỏ bánh xe trước có vùng trầy xước màu đen kích thước 0m12 x 0m04; Đầu tay cầm phải và đầu tay phanh bên phải có vết mài mòn; Đầu gác chân trước bên phải có vết mài mòn kích thước 0m04 x 0m02, cong gập chiều hướng từ sau tới trước; Ốp sườn sau bên phải có vết mài mòn kích thước 0m03 x 0m02; Sườn ống xả có vùng mài mòn kích thước 0m40 x 0m05, móp méo chiều hướng từ phải qua trái; Ốp chụp đầu miệng ống xả có vết bể vỡ kích thước 0m07 x 0m05; Mặt ngoài vỏ bánh xe sau bên trái có vùng trầy xước màu đen kích thước 0m10 x 0m06; Công tắc đèn chiếu sáng ở chế độ mở, hệ thống đèn chiếu sáng hoạt đồng bình thường; Hệ thống phanh hoạt động bình thường.

Khám nghiệm các dấu vết liên quan đến vụ tai nạn giao thông để lại trên xe mô tô biển số 61H1-562.23: Mũi dè chắn bùn trước có vùng mài mòn, kích thước 0m15 x 0m05; Chảng ba cong lệch chiều hướng từ trái sang phải; Sườn yếm chắn gió bên trái có vùng trầy xước kích thước 0m10 x 0m04; Đầu tay cầm bên trái có vết trầy xước kích thước 0m02 x 0m02; Đầu ốc cố định trục trước bên trái có vết trầy xước, mài mòn kích thước 0m01 x 0m01; Đầu gác chân trước bên trái có vết mài mòn kích thước 0m03 x 0m02; ốp sườn sau bên trái có vết trầy xước kích thước 0m15x0m01; Hệ thống lái và phanh hoạt động bình thường; Công tắc đèn chiếu sáng ở chế độ mở.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y tử thi số: 75/GĐPY ngày 11/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận nguyên nhân chết của Chu Văn C: Chấn thương sọ não.

Đối với hành vi của Đoàn Cát A điều khiển xe mô tô biển số 61H1-562.23 không chú ý quan sát nên đụng vào xe mô tô biển số 61H1-630.03 đang nằm trên đường nhưng không gây thiệt hại về người và tài sản nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Tại Cáo trạng số 53/CT-VKSDT-HS ngày 07/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Thái T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự và đề nghị:

- Về hình phạt:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo từ 01 năm từ đến 01 năm 06 tháng tù.

- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

+ 01 xe mô tô biển số biển số 61H1-562.23, nhãn hiệu Honda, số loại: Wave RSX, màu sơn: Trắng đen, số máy JA52E0025303, số khung RLHJA3841KY011541. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Đoàn Cát A. Ngày 08/6/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trả lại xe mô tô trên cho Đoàn Cát Anh theo Quyết định xử lý vật chứng số 20/QĐ ngày 08/6/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner màu xanh trắng, biển số 61H1-640.03, số máy KC26E1124694, số khung RLHKC2608GY091100 và 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 740080003666 mang tên Nguyễn Thái T, do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 10/7/2020. Quá trình điều tra, đây là tài sản và giấy tờ hợp pháp của bị cáo T. Đề nghị trả lại giấy phép lái xe mô tô hạng A1 và xe mô tô cho bị can T.

- Về trách nhiệm dân sự: Hàng thừa kế thứ nhất của bị hại Chu Văn C gồm: Vợ là Nguyễn Thị H; các con ruột: Chu Văn H, Chu Thị M. Qua làm việc, bà H, ông H và bà M yêu cầu bị cáo bồi thường tiền chi phí điều trị, chi phí mai táng và tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền 150.000.000 đồng. Trước khi mở phiên tòa, bị cáo đã bồi thường được 20.000.000 đồng, còn lại 130.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên nên ghi nhận.

Tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có ý kiến xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện cải tạo làm người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị Tòa án xét xử về hành vi của bị cáo theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết việc lái xe không chú ý quan sát là vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng và Điều tra viên, Cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và không bị ai khiếu nại gì về việc tiến hành các hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ đối với vụ án nên toàn bộ hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ có trong hồ sơ đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể: Khoảng 19 giờ 35 phút, ngày 08/01/2022, trên tuyến đường thuộc ấp T, xã L, huyện Dầu Tiếng, bị cáo đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner màu xanh trắng, biển số 61H1-640.03 chở vợ Trương Thị Thùy T ngồi sau. Do không chú ý quan sát nên đã đụng vào bị hại Chu Văn C đang đi bộ qua đường từ lề phải sang lề trái theo chiều đi chuyển của xe mô tô. Hậu quả làm bị hại chết. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với kết luận giám định pháp y tử thi, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện liên quan đến giao thông, lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, Cáo trạng số 53/CT-VKSDT-HS ngày 07/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng, an toàn giao thông, làm thiệt hại đến tính mạng của con người, gây ra đau thương tang tóc cho gia đình bị hại. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực, đủ khả năng để nhận thức được hành vi, việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi vô ý do cẩu thả. Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát, đã vi phạm vào Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, hậu quả là làm chết một người nên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm an toàn công cộng, vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn huyện Dầu Tiếng nói riêng và cả nước nói chung nên cần phải xử lý nghiêm bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm có điều kiện giáo dục và cải tạo thành người công dân tốt sau này cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đồng ý thanh toán 130.000.000 đồng tiền bồi thường tiền chi phí điều trị, chi phí mai táng và tiền tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Các vấn đề khác: Đối với Đoàn Cát A điều khiển xe mô tô biển số 61H1-562.23 không chú ý quan sát nên đụng vào xe mô tô biển số 61H1-630.03 đang nằm trên đường nhưng không gây thiệt hại về người và tài sản. Ông A và bị cáo T không có tranh chấp gì với nhau trong vụ án này nên không đặt ra vấn đề xem xét.

Về xử lý vật chứng:

+ 01 xe mô tô biển số biển số 61H1-562.23, nhãn hiệu Honda, số loại: Wave RSX, màu sơn: Trắng đen, số máy JA52E0025303, số khung RLHJA3841KY011541. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Đoàn Cát Anh. Ngày 08/6/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trả lại xe mô tô trên cho Đoàn Cát A theo Quyết định xử lý vật chứng số 20/QĐ ngày 08/6/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương là phù hợp.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner màu xanh trắng, biển số 61H1-640.03, số máy KC26E1124694, số khung RLHKC2608GY091100 và 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 740080003666 mang tên Nguyễn Thái T, do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 10/7/2020. Quá trình điều tra, đây là tài sản và giấy tờ hợp pháp của bị cáo T nên trả lại cho bị cáo.

Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo về phần tội danh, điều khoản truy tố và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sở thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 và 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 46, 48, điểm b, s khoản 1 Điều 51;

- Căn cứ Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái T 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thái T phải có trách nhiệm bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Chu Văn H, bà Nguyễn Thị H, bà Chu Thị M số tiền 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, T hợp người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

T hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner, biển số 61H1-640.03, màu sơn: Xanh trắng, số máy: KC26E1124694, số khung: RLHKC2608GY091100, loại xe: Hai bánh từ 50-175 cm3, dung tích xi lanh: 149 cm3 cho bị cáo Nguyễn Thái T.

- Trả lại 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 740080003666 mang tên Nguyễn Thái T cho bị cáo Nguyễn Thái T.

(Vật chứng nêu trên được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng).

4. Về án phí:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thái T nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thái T nộp số tiền 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm ngàn đồng).

5. Quyền kháng cáo:

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 19/8/2022).

Cỡ chữ