- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Tường Vân ly hôn với Nguyễn Phú Nhan"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Tường V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2022/HNGĐ - ST Ngày: 05 - 9 - 2022 “ V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thiết
- Các hội thẩm nhân dân:
1.Ông Trần Quốc Bảo
2.Ông Lương Phi Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Khâm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Không.
Ngày 05 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 55/2022/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 28 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 57/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 19 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Tường V, sinh năm 2000 – có mặt
Địa chỉ: ấp Phú Mỹ, xã Tân Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Phú N, sinh năm 1996 - vắng mặt
Địa chỉ: tổ 2, ấp C, xã A, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 02 năm 2022, chị Huỳnh Thị Tường V trình bày: Vào tháng 6 năm 2018 tôi và anh Nguyễn Phú N có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, hai bên do quen biết trước được cha mẹ hai bên đồng ý và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, thị xã Bình Minh vào ngày 05/6/2018 theo số kết hôn số 61. Sau khi cưới vợ chồng sống chung cha, mẹ tại ấp P, xã TP, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian đầu sống hạnh phúc, nhưng thời giang sau đó, có nhiều mâu thuẫn và sống ly thân từ đầu năm 2021 đến nay, gia đình cha mẹ có khuyên nhiều lần nhưng không có kết quả. Quá trình sống chung chúng tôi có một đứa con: Nguyễn Phú A, sinh ngày 10/10/2020 khi ly hôn cháu do chị Vân nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Phú N. Về con chung: yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Phú A, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, để tự thỏa thuận.
- Về nợ phải thu, phải trả: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Phú N vắng mặt tại phiên Tòa, không có lý do không vì sự kiện bất khả kháng, không cung cấp bảng khai ý kiến về các vấn đề của nguyên đơn yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh đã thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý vụ án, các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần. Căn cứ vào khoản 2, Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia phiên tòa.
Xét việc, bị đơn anh Nguyễn Phú N được triệu tập hợp lệ tham dự phiên hòa giải, thông báo về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ngày giờ xét xử đến lần thứ hai, nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không có lý do. Xét thấy, có thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn; Căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt.
Xét mối quan hệ gia đình giữa chị Huỳnh Thị Tường V với anh Nguyễn Phú N có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa chị Vân, anh Nhân có nhiều mâu thuẫn như: Vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau về kinh tế gia đình, không chăm lo cho vợ con, anh Nhân tự ý bỏ đi. Từ đó làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Tòa án đã mời hòa giải nhiều lần, nhằm giúp hai bên đoàn tụ và cho hai bên có thời gian hàn gắn tình cảm, nhưng anh, chị không trở về đoàn tụ được. Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chấp nhận yêu cầu ly hoân của chị V. Cho chị Huỳnh Thị Tường V được ly hôn với anh Nguyễn Phú N.
Về con chung: Chị V và anh N có một con chung: Nguyễn Phú A, sinh ngày 10/10/2020 do chị đang quản lý và nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu nuôi con là có căn cứ; Bởi các lẽ: Cháu Nguyễn Phú A, sinh ngày 10/10/2020 dưới 36 tháng tuổi, hơn nữa từ khi ly thân con chung do chị Vân nuôi dưỡng và có cuộc sống ổn định. Tiếp tục giáo cháu Nguyễn Phú A, sinh ngày 10/10/2020 cho chị dược quyền nuôi dưỡng.
Anh Nguyễn Phú N có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung: Chị Huỳnh Thị Tường V không yêu cầu giải quyết, để vợ chồng tự thỏa thuận. Anh N không có ý kiến phản bác, không xem xét.
Về nợ chung: Chị V trình bày không yêu cầu giải quyết. Anh N không có ý kiến phản bác, không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Tường V phải chịu số tiền án phí là: 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về việc ly hôn; Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí: 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0012527, ngày 11/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, nên chị không phải nộp thêm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử;
1/ Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Tường V.
Về hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thị Tường V được ly hôn với anh Nguyễn Phú N.
2/ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phú A, sinh ngày 10/10/2020 cho chị V được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Do chị chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên anh N chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Phú N có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
3/ Về tài sản chung: Chị không yêu cầu giải quyết, không xem xét.
4/ Về nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, không xem xét.
5/ Về án phí sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Tường V phải chịu số tiền là: 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về việc ly hôn; Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí: 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0012527, ngày 11/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, nên chị không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6/ Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, vắng mặt nguyên đơn chị Dung, bị đơn anh Đại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND TX Bình Minh; - CC THADS TX Bình Minh; - UBND xã TA; - Đương sự; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa đã ký Trƣơng Minh Thiết |