vanban.org

Bản án 66/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 25/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Bá Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Bá Anh T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ21/02/2021. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy3,292g Methamphetamine và 04 vỏ túi nilon màu trắng hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 130/KLGĐ-PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Hải D… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Bá Anh T - K1Đ249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Bá Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------
Bản án số:66/2021/HSST
Ngày: 25/6/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Tố Uyên

CácHộithẩm nhândân:BàHà Thị Thúyvà bà Vũ Thị Khuôn

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: BàNguyễn Hoàng Phương- Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 62/2021/HSST ngày 07 tháng 5 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2021/HSST-QĐ ngày 14 tháng 5 năm 2021 và các thông báo thời gian mở lại phiên tòa của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương,đối với bị cáo:

Họ và tên:Trần Bá Anh T, sinh năm 1994; Giới tính: Nam. Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số nhà 9 đường Mai N, khu 3 phường N, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12. Con ông Trần Bá N, sinh năm 1970 và bà Trần Thị H, sinh năm 1974; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

* Tiền án: Không;

* Tiền sự: Quyết định số 2385/QĐ-XPVPHC ngày 08/5/2020 của Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền số tiền 12.500.000đồng về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác và Cho vay tiền nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay. (Bị cáo đã nộp phạt ngày 13/5/2020).

* Nhân thân:

- Bản án số 188 ngày 24/10/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cố ý gây thương tích, nộp án phí ngày 28/12/2012.

- Quyết định số 02/QĐ-XPHC ngày 18/01/2013 của Công an phường N, thành phố Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000đồng về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác, nộp phạt ngày 22/01/2013.

- Quyết định số 185/QĐ-XPHC ngày 30/7/2018 của Công an huyện TK, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000đồng về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản.

- Quyết định số 108/QĐ-XPHC ngày 09/5/2018 của Công an thành phố C, tỉnh C xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000đồng về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác, nộp phạt ngày 11/5/2018.

- Quyết định số 112/QĐ-XPHC ngày 11/5/2018 của Công an thành phố C, tỉnh C xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng, nộp phạt ngày 11/5/2018.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/02/2021chuyển tạm giam từ ngày 23/02/2021đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hải Dương đến nay.Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Anh T1, sinh năm 2002;

Cư trú tại: Thôn Nghĩa X, xã Đại S, huyện TK, tỉnh Hải Dương

2. Ông Lê Quang T2, sinh năm 1955;

Cư trú tại: Số 1065 LT, phường HT, thành phố Hải Dương.

Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30phút ngày 21/02/2021 tại khu vực ngã ba đường Yết Kiêu giao với đường Phạm Cự L thuộc phường HT, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Hải Dương kết hợp với Công an phường HT, thành phố Hải Dương làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang Trần Bá Anh Tcó hành vi cất giấu trái phép 03 gói nilon mầu trắng kích thước mỗi gói khoảng (3x5)cm, 01 gói có khích thước khoảng (1,5 x1,5)cm bên trong các gói đều chứa chất tinh thể dạng cục màu trắng. T khai nhận đó là ma túy tổng hợp, mục đích cất giấu để sử dụng, khi bắt giữ có sự chứng kiến của anhNguyễn Anh T1sinh năm 2002 trú tạithôn Nghĩa X, xã Đại S, huyện TK, tỉnh Hải Dươngvà ông Lê Quang T2sinh năm 1955; trú quántại số nhà 1065 LT, phường HT, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Quá trình điều tra đã làm rõ được khoảng tháng 7/2020, Trần Bá Anh T quen và được một người đàn ông tên C ở Thành phố Hồ Chí Minh (không xác định rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) cho 04 gói ma túy tổng hợp để T sử dụng. T mang về nhà cất giấu và có lấy một ít để sử dụng nhưng không xác định thời gian cụ thể. Sáng ngày 20/02/2021 T cho 04 gói ma túy nói trên vào túi áo khoác đang mặc để khi cần thì sử dụng rồi thuê xe ôm đi về nhà anh Nguyễn Anh T1 ở thôn Nghĩa X, xã Đại S, huyện TK, tỉnh Hải Dương chơi; đến chiều ngày 21/02/2021 thì nhờ anh Nguyễn Anh T1 chở T về nhà. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi T và anh Nguyễn Anh T1 đi đến khu vực ngã ba đường Yết Kiêu giao với đường Phạm Cự L thuộc phường HT, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dươngthì bị tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Hải Dương kết hợp với Công an phường HT, thành phố Hải Dương làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện thu giữ trong túi áo khoác bên trái T đang mặc 03 gói nilon mầu trắng kích thước mỗi gói khoảng (3x5)cm, 01 gói có khích thước khoảng (1,5 x1,5)cm bên trong các gói đều chứa chất tinh thể dạng cục màu trắng. T khai nhận đó là ma túy tổng hợp, mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân. Quá trình bắt giữ có sự chứng kiến của anhNguyễn Anh T1và ông Lê Quang T2.

Tại Kết luận giám định số 130/KLGĐ- PC09 ngày 24/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng thu giữ của Trần Bá Anh T gửi đến giám định có tổng khối lượng là 3,464g là ma túy, loại Methamphetamine.Methamphetamine nằm trong Danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

* Về vậtchứng: Đối với 3,292g Methamphetamine và 04 vỏ túi nilon màu trắng hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 130/KLGĐ-PC09 đang được quản lý tại kho vật chứng của Công an thành phố Hải Dương chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số 67/CT-VKSTPHD ngày 04/5/2021,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Trần Bá Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Bá Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;Xử phạt bị cáo Trần Bá Anh T từ 36 (Ba mươi sáu) tháng đến 39 (Ba mươi chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/02/2021; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy 3,292g Methamphetamine và 04 vỏ túi nilon màu trắng hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 130/KLGĐ-PC09 ngày 24/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 vàNghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định (bút lục số 15-16, 17-18, 34-35); lời khai của những người làm chứng anh Nguyễn Anh T1 và anh Lê Quang T2 (bút lục số 50-59) cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:Khoảng 17giờ30phút ngày 21/02/2021 tại khu vực đường giao nhau giữa đường Yết Kiêu và đường Phạm Cự L thuộc phường HT, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; Trần Bá Anh Tcó hành vi cất giấu trái phép 3,464g Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được ma túy là chấtgâynghiện bị Nhà nước cấm lưu hành,có tác hại lớn đến sức khỏe con người và là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Việc bị cáo cất giấu trái phép Methamphetamine để sử dụng là vi phạm pháp luật hình sự nhưng bị cáo coi thường pháp luật nên cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm, có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng và chấp hành pháp luật.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (được viết tắt là TNHS) của bị cáo thì thấy:Bản thân bị cáo đã bị cơ quan Công an thành phố Hải Dương, Công an huyện TK xử phạt vi phạm hành chính và bị Tòa án Tòa án nhân dân thành phố Hải Dươngxét xử năm 2012. Ngày 08/5/2020 bị cáo lại bị UBND quận T, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền số tiền 12.500.000đồng về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác và Cho vay tiền nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay, bị cáo đã nộp phạt vào ngày 13/5/2020.Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Tuy nhiên, bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS mà xác định bị cáo có nhân thân xấu; Về tình tiết giảm nhẹ TNHS:Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo nên HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:Đối với 3,292g Methamphetamine và 04 vỏ túi nilon màu trắng hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 130/KLGĐ-PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hải Dương. Xét Methamphetaminelà chất cấm lưu hànhnên cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Những vấn đề khác:

- Đối với nguồn ma túy bị cáo T khai là của một người bạn tên là C cho nhưng T không xác định rõ họ tên, tuổi, địa chỉ của người tên C ở đâu nên Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Hải Dương tiếp tục điều tra xác minh, khi nào rõ được nhân thân lai lịch và hành vi vi phạm sẽ xử lý sau.

- Đối với anh Nguyễn Anh T1, sinh năm 2002. Cư trú tại: Thôn Nghĩa X, xã Đại S, huyện TK, tỉnh Hải Dương đi cùng bị cáo T nhưng không biết bị cáo T cất giấu trái phép chất ma túy nên xác định không vi phạm. Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Hải Dương không đề cập hình thức xử lý là phù hợp.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên buộc phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249;khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51;điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự;Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 vàNghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí, lệ phí Tòa áncủa Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1.Tuyên bố bị cáo Trần Bá Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Bá Anh T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ21/02/2021.

2. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy3,292g Methamphetamine và 04 vỏ túi nilon màu trắng hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 130/KLGĐ-PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Hải Dương (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương ngày 14/5/2021).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Bá Anh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Bá Anh Tcó quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/6/2021)./.

Cỡ chữ