- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bảo T - tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bảo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2021/HS-ST Ngày 21-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thế Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đình Thị Thanh Hải; ông Vũ Ngọc Ánh.
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Mai Huế - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2021/HS-ST ngày 27/10/2021. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2021/QĐXXST-HS ngày 09/12/2021, đối với bị cáo :
Nguyễn Bảo T - Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03/8/1980 tại tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Tổ x, phường N, TP Y, tỉnh Yên Bái; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Trung N, sinh năm 1956; Con bà: Lê Thị T, sinh năm 1960; Có vợ là Lò Thị C, sinh năm 1987 (Đã chết) và có 01 con sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 27/6/2006 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/8/2021 hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái. Có mặt.
Người chứng kiến: Ông Lê Xuân Hu, sinh năm 1958. Trú tại: Tổ x, phường N, TP Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Bảo T là đối tượng nghiện chất ma túy, Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17-8-2021 T đi đến khu vực tổ dân phố H, phường H, TP Y, tỉnh Yên Bái mua của một người đàn ông không quen biết được 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng mục đích để sử dụng. Khi T mang ma túy về đến khu vực thuộc tổ x, phường N, TP Y thì bị phát hiện và bị thu giữ: 01 gói nilon màu trắng hàn kín bên trong chứa chất bột nén màu trắng nghi là ma túy; 01 xi lanh nhựa; 02 ống Novocain và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại đen trắng mang số thuê bao 0334 052 102. Cơ quan điều tra đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.
Tại bản kết luận giám định số: 458/GĐMT ngày 23/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: Chất bột nén màu trắng thu giữ của Nguyễn Bảo T có khối lượng là 0,147 gam là ma túy; loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số: 65/CT-VKSTP ngày 25/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố bị cáo Nguyễn Bảo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bảo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo T từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Bảo T khai báo thành khẩn, không tranh luận gì và xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Bảo T khai nhận hành vi tàng trữ 0,147 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi của bị cáo đang bị toàn xã hội bài trừ, lên án và cũng là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy, nhưng do sống buông thả nên sa vào con đường nghiện chất ma túy. Do đó, cần phải có mức hình phạt thỏa đáng tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo và đảm bảo phòng chống tội phạm nói chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không nghề nghiệp, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng. Nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Nguyễn Bảo T khai nhận nguồn gốc ma túy là mua của một người đàn ông nhưng T không biết đầy đủ tên, tuổi và địa chỉ. Nên không có cơ sở để điều tra, xác minh và xử lý trong vụ án.
Về vật chứng:
Đối với 0,147 gam ma túy loại Heroine thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Bảo T, Cơ quan giám định đã trích 0,08 gam làm mẫu giám định còn lại 0,067 gam được niêm phong bằng một phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Yên Bái phát hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong, nilon gói, giấy gói, 01 xi lanh nhựa loại 3mml/cc và 02 ống Novocain chưa qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, loại đen trắng đã qua sử dụng lắp sim có số thuê bao: 0334 052 102 tạm giữ của bị cáo là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bảo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo T 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 17-8-2021.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 0,067 gam ma túy loại Heroine được niêm phong bằng một phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Yên Bái phát hành, mặt trước phong bì có ghi: “Vật chứng thu giữ của Nguyễn Bảo T khi bắt quả tang ngày 17/8/2021 (sau khi trích mẫu giám định), mặt sau phong bì các mép đều được dán kín có đầy đủ họ tên, chữ ký của những thành phần tham gia niêm phong và bốn hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Yên Bái; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong, nilon gói, giấy gói, 01 xi lanh nhựa loại 3ml/cc và 02 ống Novocain chưa qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, loại đen trắng đã qua sử dụng lắp sim có số thuê bao: 0334 052 102; có số seri: 3544 9609 9426 480.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Bảo T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Bảo T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND tỉnh Yên Bái. - VKSND TP Yên Bái; - Công an TP Yên Bái; - Hồ sơ nghiệp vụ CATP; - Chi cục THADS TP Yên Bái. - Trại giam; - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái. - Bị cáo. - Lưu hồ sơ vụ án, TA, THA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Thế Hòa |