- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành L tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66 /2021/HS-ST Ngày 08/6/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Cầm Xuân Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Quốc Bình – Phó trưởng phòng giáo dục thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La;
2. Ông Lù Văn Quý – Cán bộ nghỉ hưu.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Mạnh Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Hoàng Như Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành L, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2003; tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi ĐKNKTT: Tổ 3, phường C, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể, tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976 và con bà Bùi Thị H, sinh năm 1974; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo chưa có vợ con; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16 tháng 02 năm 2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Thành L: Bà Bùi Thị H (mẹ đẻ Nguyễn Thành L); địa chỉ: Tổ 3, phường C, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành L: Bà Trần Bích Liên, Luật sư trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Sơn La, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 00 phút ngày 16/02/2021 tổ công tác Công an phường Chiềng Sinh - Công an thành phố Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực Tổ 3, phường C, thành phố Sơn La phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Thành L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) túi nilon trong suốt, bên trong có 37 viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh đều có hình tròn, đồng dạng (L tự giác lấy trong túi quần phía trước, bên phải đang mặc ra giao nộp, khai nhận là ma túy hồng phiến cất giữ để sử dụng).
Quá trình điều tra Nguyễn Thành L khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 22 giờ 00 phút ngày 16/02/2021 Nguyễn Thành L đi xe ô tô taxi từ nhà ở Tổ 3, phường C, thành phố Sơn La đến khu vực dốc bản Mạt, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, L gặp và hỏi mua được của một người nam giới (không biết họ tên, địa chỉ) 01 túi nilon trong suốt bên trong có 37 viên ma túy hồng phiến và 01 viên nén màu xanh không phải là ma túy với số tiền 2.300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L cất gói ma túy vừa mua được vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi bắt taxi đi đến khu vực cổng chào bản Phung thuộc Tổ 3, phường C, thành phố Sơn La để tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Chiềng Sinh – Công an thành phố Sơn La phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Về nguồn gốc 3,58 gam Methamphetamine bị thu giữ, bị cáo Nguyễn Thành L khai mua của một người nam giới không biết họ tên, địa chỉ ở đâu vào ngày 16/02/2021 tại khu vực dốc bản Mạt, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 43/CT-VKSTP ngày 22/4/2021, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Thành L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 36 đến 42 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: Phong bì Công văn của Công an thành phố Sơn La đã niêm phong dán kín, mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Nguyễn Thành L, sinh năm 2003 – Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 16/02/2021. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon trong suốt; Mẫu lưu có khối lượng 2,60 gam ký hiệu L2”.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn la, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện, người bào chữa không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Ngày 16/02/2021, Nguyễn Thành L đã có hành vi cất giữ trái phép 3,58 gam Methamphetamine. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 23 giờ 25 phút ngày 16/02/2021 tại khu vực Tổ 3, phường C, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đối với Nguyễn Thành L.
- vật chứng thu giữ là 01 túi nilon trong suốt bên trong có 37 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 3,58 gam Kết luận giám định là Methamphetamine và 01 viên nén màu xanh có khối lượng 0,08 gam không phải là ma túy;
- Lời khai nhận tội của bị cáo;
Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Thành L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 3,58 gam Methamphetamine đã vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma túy, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Do đó cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo gây ra để đảm bảo giáo dục riêng, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội dưới 18 tuổi, nên cần áp dụng Điều 91, Điều 98 và Điều 101của Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng phù hợp với bài bào chữa của vị Luật sư bào chũa cho bị cáo tại phiên tòa và người đại diện theo pháp luật của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về nguồn gốc 3,58 gam Methamphetamine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không biết họ tên, tuổi và địa chỉ do đó không có căn cứ điều tra làm rõ.
Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon trong suốt; Mẫu lưu có khối lượng 2,60 gam ký hiệu L2 là vật Nhà Nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 16/02/2021).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: Phong bì Công văn của Công an thành phố Sơn La đã niêm phong dán kín, mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Nguyễn Thành L, sinh năm 2003 – Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 16/02/2021. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon trong suốt; Mẫu lưu có khối lượng 2,60 gam ký hiệu L2”.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/ 5 /2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/6/2021).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND thành phố Sơn La (2); - THADS thành phố Sơn La; - Công an thành phố Sơn La; - THAPT (2); - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; người đại diện; người bào chữa; - Lưu hồ sơ, án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (đã ký) Cầm Xuân Thủy THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Xuân Thủy |