vanban.org

Bản án 66/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Võ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn M.

[2] Về quan hệ con chung: Nguyễn Thị Như Y, sinh ngày 02/01/2002 đã thành niên, đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động để tự nuôi mình nên không xem xét việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn. [3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Võ Thị L và anh Nguyễn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị võ Thị L yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn M"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Võ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn M.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐH
TỈNH BẠC LIÊU
-----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2021/HNGĐ-ST
Ngày 28/5/2021
Về việc tranh chấp
hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐH, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Liệt

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tâm và bà Phạm Thị Nhâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị An, Thư ký Tòa án nhân dân huyện ĐH.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Ông Trần Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 82/2021/TLST-HN ngày 25 tháng 3 năm 2021 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2021/QĐXX-ST ngày 10 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Võ Thị L, sinh năm 1979 (có đơn đề nghị vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Doanh Đ, xã Điền H, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1970 (có đơn đề nghị vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Doanh Đ, xã Điền H, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Võ Thị L trình bày: Vợ chồng chung sống vào năm 2001 và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Long Điền T vào ngày 08/11/2004, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện.

Nguyên nhân ly hôn do anh M không chăm lo gia đình, thường xuyên uống rượu, nhiều lần chị có khuyên nhủ nhưng anh M không thay đổi, chị phải về nhà mẹ ruột sống hơn 5 tháng nay. Chị thấy không còn hạnh phúc và không thể sống chung với anh M nữa nên chị yêu cầu ly hôn.

Về con chung của vợ chồng: Có một người con chung tên Nguyễn Thị Như Y, sinh ngày 02/01/2002 đã thành niên, đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động để tự nuôi mình.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Anh Nguyễn Văn M trình bày: Vợ chồng chung sống vào năm 2001 và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Long Điền T vào ngày 08/11/2004, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện. Nguyên nhân ly hôn là khoảng trước tết năm 2021 chị L không cho anh uống rượu nên vợ chồng có cự cải, vợ về bên nhà cha mẹ ruột ở cho đến nay, vì mâu thuẫn vợ chồng không lớn nên anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung của vợ chồng: Có một người tên Nguyễn Thị Như Y, sinh ngày 02/01/2002 đã thành niên, đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động để tự nuôi mình.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và đề nghị:

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Võ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn M.

Về quan hệ con chung: Nguyễn Thị Như Y, sinh ngày 02/01/2002 đã thành niên không đặt ra việc cấp dưỡng cho con.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Võ Thị L và anh Nguyễn Văn M không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về tố tụng: Chị Võ Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn M, anh M có địa chỉ cư trú tại Ấp Doanh Đ, xã Điền H, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.

Anh Nguyễn Văn M, chị Võ Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh M và chị L.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Năm 2001 chị L và anh M tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Điền Tây, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Trong thời gian chung sống giữa chị L và anh M phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không cùng quan điểm, mỗi người có suy nghĩ, cách sống khác nhau. Nay chị L xác định mâu thuẫn giữa chị và anh M đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ. Tuy nhiên qua thời gian chung sống, chị L và anh M không thực hiện được mà còn phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến việc sống ly thân hơn 05 tháng nay. Anh M cho rằng mâu thuẫn không lớn nên không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian sống ly thân, anh M cũng như chị L không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ, thậm chí còn xảy ra cự cãi, phải trình báo địa phương. Điều đó cho thấy hôn nhân của chị L và anh M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị L được ly hôn với anh M.

Về con chung: Nguyễn Thị Như Y, sinh ngày 02/01/2002 đã thành niên, đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động để tự nuôi mình nên không xem xét việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Võ Thị L và anh Nguyễn Văn M không yêu cầu xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân: chị Võ Thị L phải nộp số tiền 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ và phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Võ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn M.

[2] Về quan hệ con chung: Nguyễn Thị Như Y, sinh ngày 02/01/2002 đã thành niên, đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động để tự nuôi mình nên không xem xét việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.

[3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Võ Thị L và anh Nguyễn Văn M không yêu cầu xem xét.

[4] Về án phí: Chị Võ Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng, chị L đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0011636 ngày 25/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐH được chuyển thu án phí.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ