vanban.org

Bản án 66/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị T. Buộc bị đơn Tiên Nguyệt K phải trả cho chị Huỳnh Thị T 1.

Về chi phí giám định: chị Tiên Nguyệt K có nghĩa vụ hoàn trả cho chị Huỳnh Thị T 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng. Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị T. Buộc bị đơn Tiên Nguyệt K phải trả cho chị Huỳnh Thị T 1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH PHÚ
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2021/DS-ST
Ngày: 03-12-2021
V/v tranh chấp “hợp đồng vay tài
sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Sơn

2. Ông Lê Văn Tài

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lộc – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Bình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 161/2021/TLST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2021 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2021/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị T, sinh năm 1976,

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện P, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Huỳnh Thị T: anh Nguyễn Minh K, sinh năm 1981, địa chỉ: xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre theo văn bản ủy quyền ngày 05/4/2021.

2 Bị đơn: Chị Tiên Nguyệt K, sinh năm 1981,

ĐKTT: ấp B, xã H, huyện P, tỉnh Bến Tre.

Anh K, chị K có yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Minh K trình bày:

Ngày 20/8/2020 chị Tiên Nguyệt K vay của chị Huỳnh Thị T (còn gọi là L) 1.000.000.000 đồng, chị K có viết biên nhận, biên nhận không thể hiện lãi suất nhưng có thỏa thuận lãi 1%/năm, thời hạn vay một tháng. Tuy nhiên, từ ngày vay cho đến nay chị K không trả lãi cũng không trả nợ gốc.

Theo đơn khởi kiện chị Huỳnh Thị T yêu cầu chị Tiên Nguyệt K trả số tiền nợ gốc 1.000.000.000 đồng, 133.333.000 đồng tiền lãi (tiền lãi được tính từ ngày 20/8/2020 đến ngày 20/4/2021 là 08 tháng, lãi suất 20%/năm), yêu cầu tính lãi của số tiền 1.000.000.000 đồng từ ngày thụ lý vụ án cho đến khi giải quyết xong vụ án với mức lãi suất 20%/năm.

Nay chị T yêu cầu khởi kiện như sau: yêu cầu chị Tiên Nguyệt K trả số tiền nợ gốc 1.000.000.000 đồng, yêu cầu trả lãi từ ngày 20/8/2020 (âm lịch), dương lịch là ngày 06/10/2020 đến ngày 06/4/2021 với lãi suất 10%/năm là: 1.000.000.000 đồng x 06 tháng x 10%/năm = 50.000.000 đồng, yêu cầu trả lãi của số tiền 1.000.000.000 đồng từ ngày thụ lý vụ án cho đến khi giải quyết xong với mức lãi suất 10%/năm.

Đối với chi phí giám định chị T đã nộp là 1.800.000 đồng yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Theo đơn xin vắng mặt ngày 10/11/2021 chị Tiên Nguyệt K trình bày:

Chị K thừa nhận có nợ chị T số tiền 1.000.000.000 đồng và đồng ý trả số tiền trên cho chị T. Đối với yêu cầu trả lãi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Do chị K bận công việc nên yêu cầu được hòa giải, xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử: Trong thời gian chuẩn bị xét xử Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng với quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ chưa đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị T. Buộc chị Tiên Nguyệt K trả cho chị Huỳnh Thị T 1.000.000.000 đồng nợ gốc và tiền lãi theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: nguyên đơn Huỳnh Thị T yêu cầu bị đơn Tiên Nguyệt K trả tiền nợ vay nên đây là “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn Tiên Nguyệt K có nơi cư trú tại ấp K, xã H, huyện P, tỉnh Bến Tre; theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú.

Về tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Nguyễn Minh K, bị đơn Tiên Nguyệt K có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị T khởi kiện yêu cầu chị Tiên Nguyệt K trả số nợ vay là 1.000.000.000 đồng. Tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp là 01 “Biên nhận” ngày 20/8/2020 (âm lịch). Theo Kết luận giám định số 259/2021/GĐTL ngày 22/6/2021 của Phòng kỷ thuật hình sự công an tỉnh Bến Tre kết luận chữ ký, chữ viết biên nhận nói trên là của bị đơn Tiên Nguyệt K; mặt khác theo đơn xin vắng mặt ngày 10/11/2021 chị Tiên Nguyệt K thừa nhận có nợ của chị T 1.000.000.000 đồng. Do đó, có căn cứ xác định giữa nguyên đơn Huỳnh Thị T với bị đơn Tiên Nguyệt K có xác lập hợp đồng vay tài sản, hợp đồng được giao kết trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, không ai bị lừa dối hoặc bị ép buộc; cả hai đều có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự nên được xem là hợp đồng hợp pháp theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự.

Về thực hiện nghĩa vụ trả tiền của bị đơn Tiên Nguyệt K: chị K thừa nhận có vay của chị Huỳnh Thị T 1.000.000.000 đồng và đồng ý trả 1.000.000.000 đồng nên yêu cầu của chị T là có căn cứ phù hợp với Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc chị Tiên Nguyệt K trả cho chị T 1.000.000.000 đồng.

Xét yêu cầu trả lãi: chị Huỳnh Thị T yêu cầu trả lãi từ ngày 20/8/2020 (âm lịch), dương lịch là ngày 06/10/2020 đến ngày 06/4/2021 với lãi suất 10%/năm là: 1.000.000.000 đồng x 06 tháng x 10%/năm = 50.000.000 đồng; yêu cầu trả lãi của số tiền 1.000.000.000 đồng từ ngày thụ lý vụ án cho đến khi giải quyết xong vụ án với mức lãi suất 10%/năm là ngày 01/6/2021 đến ngày 03/12/2021: 1.000.000.000 đồng x 06 tháng 02 ngày x 10%/năm = 50.555.555 đồng. Tổng số tiền lãi là 100.555.555 đồng. Mức lãi suất chị T yêu cầu là phù hợp với Điều 468 Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với yêu cầu trả dần hàng năm của chị K. Xét thấy, yêu cầu trả dần của chị K không có trong thỏa thuận và không được chị T chấp nhận nên không chấp nhận yêu cầu trả dần của chị K.

Về chi phí giám định: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải có nghĩa vụ nộp chi phí giám định. Do nguyên đơn đã tạm nộp chi phí giám định là 1.800.000 đồng nên bị đơn phải hoàn trả chi phí giám định cho nguyên đơn 1.800.000 đồng theo quy định tại Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự.

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn không thuộc trường hợp được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 161, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị T. Buộc bị đơn Tiên Nguyệt K phải trả cho chị Huỳnh Thị T 1.100.555.555 (một tỷ một trăm triệu năm trăm năm mươi lăm nghìn năm trăm năm mươi lăm) (gồm 1.000.000.000 đồng nợ gốc và 100.555.555 đồng nợ lãi).

2. Về chi phí giám định: chị Tiên Nguyệt K có nghĩa vụ hoàn trả cho chị Huỳnh Thị T 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Tiên Nguyệt K phải chịu 45.016.666 (bốn mươi lăm triệu không trăm mười sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu) đồng.

Chị Huỳnh Thị T được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 23.000.000 đồng theo biên lai thu số 0005176 ngày 31/5/2021.

4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ