vanban.org

Bản án 66/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 02/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong có chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 118/KLGĐ-PC09 ngày 21/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công An tỉnh Đồng Nai. V… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "pHẠM XUÂN A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2020/HSST.
Ngày: 02/6/2020.

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Hoàng Quy.

2. Ông Lưu Đức Chung.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân Mai - Thư ký Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Trần Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2020. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2020/QĐXXST-HS ngày 21/5/2020, đối với bị cáo:

Phạm Xuân A, sinh năm 1988, tại Kiên Giang. Không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; nơi cư trú: Khu 15, xã L , huyện L , tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Hữu H (đã chết) và bà Trần Thị L ; Có vợ tên Phạm Thị Ngọc D , có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 16/01/2020 và chuyển tạm giam đến nay tại nhà tạm giữ Công A huyện Long Thành.

(Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Xuân A bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2015. Lúc 15 giờ 30 phút, ngày 16/01/2020, A gọi điện cho một người phụ nữ tên L (Chưa rõ tên tuổi, địa chỉ) hỏi mua ma túy tổng hợp. L hẹn A đến khu vực vườn tràm đường vào Trường giáo dưỡng số 4 thuộc ấp 7, xã A, huyện L để giao ma túy. Đến 16 giờ cùng ngày, A nhờ Nguyễn Văn C (xe mô tô do C mượn) chở A đến khu vực đã hẹn với L. Khi đến nơi, A xuống xe và đi bộ đến gặp L mua 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Sau đó, A nhờ C chở về nhà. Trên đường về đến đoạn đường Ngã ba Thái L thuộc ấp 7, xã A, huyện Long Thành thì bị tổ tuần tra Công A xã A kiểm tra phát hiện A đAg cầm trên tay 01 gói nylon bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp) nên lập biên bản phạm tội quả tAg chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công A huyện Long Thành để xử lý.

Tại Bản kết luận giám định số 118/PC09-GĐMT ngày 21/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công A tỉnh Đồng Nai kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,2457 gam, loại: Methamphetamine”.

Vật chứng vụ án: 01 phong bì bên trong có chứa ma túy sau giám định đã niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công A tỉnh Đồng Nai đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành chờ xử lý.

Trước Cơ quA cảnh sát điều tra Công A huyện Long Thành, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Trong vụ án này có người tên L có hành vi bán ma túy cho A nhưng chưa rõ lai lịch nên Cơ quA cảnh sát điều tra Công A huyện Long Thành tiếp tục xác minh, điều tra xử lý sau.

Đối với Nguyễn Văn C là người A nhờ chở nhưng C không biết là A đi mua ma túy nên không bị xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 82/CT-VKSLT ngày 21/4/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Phạm Xuân A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

- Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành vẫn giữ nguyên quA điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo A mức án từ 14 đến 16 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong có chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 118/KLGĐ-PC09 ngày 21/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công An tỉnh Đồng Nai.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, người làm chứng anh Nguyễn Văn C vắng mặt, đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Xét anh C vắng mặt nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và sự vắng mặt của anh C không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.

Về tội dAh: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Phạm Xuân A đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tAg, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ thu thập được tại hồ sơ vụ án và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, nên có cơ sở xác định: Lúc 16 giờ ngày 16/01/2020, tại đoạn đường Ngã ba Thái L thuộc ấp 7, xã A, huyện L , tỉnh Đồng Nai, Phạm Xuân A có hành vi tàng trữ 01 gói nylon bên trong có chứa 0,2457 gam ma túy, loại: Methamphetamine thì bị Công A xã A tuần tra phát hiện, lập biên bản phạm tội quả tAg. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015) như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma tuý và trật tự A toàn xã hội tại địa phương, tiếp tay cho các đối tượng khác thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Bản thân bị cáo nhận thức rất rõ về tác hại của ma túy, về việc Nhà nước nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn cố tình thực hiện là thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong có chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 118/KLGĐ-PC09 ngày 21/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công A tỉnh Đồng Nai.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phạm Xuân A 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2020.

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong có chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 118/KLGĐ-PC09 ngày 21/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công An tỉnh Đồng Nai. Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành đang tạm giữ theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/4/2020.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Xuân A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ