- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Đinh Cao C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2020/HS-ST Ngày 21-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Lê Thanh Sơn;
+ Bà Vũ Thị Hải Vân.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Hà Trang– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Phương Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Đinh Cao C; sinh ngày 10/8/1990; nơi sinh: Ninh Bình; nơi cư trú: thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn N và bà Đinh Thị H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/6/2020 đến ngày 02/7/2020 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình theo Lệnh tạm giam số 37/CQĐT ngày 02/7/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp. (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Đinh Văn N, sinh năm 1964.
Nơi cư trú: thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt).
- NLC (Vắng mặt).
- NCK (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 29/6/2020, tổ công tác Công an phường Trung Sơn phối hợp với Công an phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp tiến hành tuần tra trên địa bàn 02 phường. Khi đến đoạn đường đi vào nhà nghỉ Đồi Dù thuộc tổ 1, phường Trung Sơn, thành phố Tam Điệp, tổ công tác phát hiện 01 nam thanh niên đang ngồi trên xe mô tô biển kiểm soát 90H4-4923 đỗ tại lề đường bên phải hướng đi ra đường Lê Trọng Tấn, có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đến yêu cầu kiểm tra hành chính, nam thanh niên không xuất trình được giấy tờ tùy thân và khai tên là Đinh Cao C, bản thân có sử dụng ma túy đá và tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng đang cầm ở tay trái, bên trong bao thuốc có 01 túi ma túy đá mang theo để sử dụng. Tổ công tác đã thu giữ, kiểm tra bao thuốc lá Thăng Long do C giao nộp, xác định bên trong bao thuốc có 05 điếu thuốc lá và 01 túi nilon màu trắng, bên trong túi nilon có chứa chất dạng tinh thể màu trắng. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động NOKIA lắp 01 sim Vinaphone số thuê bao 0914831065; số tiền 30.000 đồng và 01 xe mô tô biển kiểm soát 90H4- 4923.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng của chất dạng tinh thể màu trắng thu giữ của Đinh Cao C là 0,57 gam, ký hiệu là M gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 183/KLGĐ-PC09-MT ngày 01/7/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,5775 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Mathamphetamine là chất ma túy thuộc danh mục II, số thứ tự 323 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số 71/CT-VKS ngày 30/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo Đinh Cao C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đinh Cao C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đinh Cao C từ 18 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 30/6/2020. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong, bên ngoài ghi: vật chứng còn lại: 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bị xé rách một đầu; 01 phong bì niêm phong, bên ngoài ghi số 183/KLGĐ-PC09-MT: chất dạng tinh thể màu trắng ký hiệu M=0,4452 gam là ma túy, loại Methamphetamine, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 05 điếu thuốc; 01 vỏ phong bì bị xé rách một đầu đã dùng để niêm phong chiếc điện thoại di động thu giữ của Đinh Cao C. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra, ông Đinh Văn N trình bày: C hỏi mượn ông chiếc xe mô tô biển kiểm soát 90H4-4923, ông không biết việc C sử dụng xe mô tô của ông để đi mua ma túy.
Trong quá trình điều tra, NLC trình bày: anh thấy C khai nhận trong bao thuốc lá có 01 túi ma túy đá Cường mang theo để sử dụng.
Trong quá trình điều tra, NCK trình bày: quá trình được mời chứng kiến sự việc, ông thấy công an làm việc rất khách quan, đúng pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục số 23), lời khai của người làm chứng; vật chứng đã thu giữ; Kết luận giám định số 183/KLGĐ-PC09-MT ngày 01/7/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình (bút lục số 31) cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: khoảng 22 giờ 30 phút ngày 29/6/2020, bị cáo Đinh Cao C có hành vi tàng trữ trái phép 0,5775 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng.
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 đến dưới 05 gam;”
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Đinh Cao C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo Đinh Cao C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi công an tiến hành kiểm tra hành chính, bị cáo đã tự giác giao nộp gói ma túy là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo không có tiền án, tiền sự gì.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với 01 điện thoại di động NOKIA lắp 01 sim Vinaphone số thuê bao 0914831065, số tiền 30.000 đồng; quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo Đinh Cao C, không liên quan đến hành vi phạm tội. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại số tài sản nêu trên cho bị cáo thông qua ông Đinh Văn N (bố đẻ của bị cáo C - người được bị cáo ủy quyền) là đúng pháp luật.
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 90H4- 4923; quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Đinh Văn N. Ngày 29/6/2020, ông N không biết bị cáo mượn xe mô tô của ông N để đi mua ma túy về sử dụng. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 90H4-4923 cho ông N là đúng pháp luật.
Đối với khối lượng 0,4452 gam chất tinh thể màu trắng, là ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; 01 phong bì niêm phong, bên ngoài ghi: vật chứng còn lại 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bị xé rách một đầu; 01 phong bì niêm phong, bên ngoài ghi số 183/KLGĐ-PC09-MT, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 05 điếu thuốc; 01 vỏ phong bì bị xé rách một đầu đã dùng để niêm phong chiếc điện thoại di động thu giữ của Đinh Cao C đều không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nguồn gốc ma túy:
Bị cáo C khai: khoảng 22 giờ ngày 29/6/2020 do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên bị cáo đi đến đường Quyết Thắng thuộc phường Trung Sơn để tìm mua ma túy. Đến đoạn gần đường tàu cắt ngang, bị cáo gặp vào hỏi mua của một người đàn ông lạ mặt ngồi trên xe mô tô 400.000 đồng ma túy đá. Người đàn ông đồng ý bán ma túy và dẫn bị cáo đến đoạn đường đi vào nhà nghỉ Đồi Dù. Bị cáo đưa cho người đàn ông 400.000 đồng, sau đó người đàn ông chỉ vị trí để ma túy đá trong bao thuốc lá Thăng Long ở dưới gốc cây bên trái lề đường dẫn vào nhà nghỉ Đồi Dù rồi bỏ đi.
Quá trình điều tra, do bị cáo không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng và biển kiểm soát phương tiện của người đàn ông bán ma túy cho bị cáo. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp không có căn cứ để điều tra xử lý. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: bị cáo Đinh Cao C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: bị cáo Đinh Cao C 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 30/6/2020.
2. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 phong bì niêm phong, bên ngoài ghi: vật chứng còn lại 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bị xé rách một đầu.
+ 01 phong bì niêm phong, bên ngoài ghi số 183/KLGĐ-PC09-MT: chất dạng tinh thể màu trắng ký hiệu M=0,4452 gam là ma túy, loại Methamphetamine, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.
+ 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 05 điếu thuốc.
+ 01 vỏ phong bì bị xé rách một đầu đã dùng để niêm phong chiếc điện thoại di động thu giữ của Đinh Cao C.
(Chi tiết vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31 tháng 8 năm 2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Đinh Cao C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình: 01 bản. - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình: 01 bản. - VKSND tỉnh Ninh Bình: 01 bản. - VKSND TP. Tam Điệp: 02 bản. - Cơ quan CSĐT và Cơ quan Thi hành án hình sự Công an TP. Tam Điệp: 02 bản. - Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình: 01 bản. - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Tam Điệp: 01 bản. - Bị cáo: 01 bản; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: 01 bản; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Văn phòng: 03 bản. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Phượng |