- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Hồng Q phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2020/HS-ST Ngày: 20/8/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Nguyên Hồng.
2. Ông Hà Văn Sơ.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huế - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2020/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Vũ Hồng Q (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19 tháng 2 năm 1986 tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ h, phường Cốc L, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Vũ Văn Q, sinh năm 1963 và bà Trịnh Thị Ph, sinh năm 1964; Bị cáo có vợ Trương Thị Th, sinh năm 1990; có 01 con sinh năm 2011; tiền án: Ngày 30/6/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xử phạt 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23 tháng 4 năm 2020 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty Công ty TNHH MTV Năng V. Địa chỉ: Số nhà 001, đường Xuân D, phường Kim T, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Duy N - Chức vụ Giám đốc; Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành Tr - Chức vụ phó Giám đốc. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 35 ngày 23/4/2020, Tổ công tác Cảnh sát giao thông đội 2, thuộc phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại Km 285+600 thuộc địa phận bản Nà Hạ 2, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang Vũ Hồng Q đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý.
Vật chứng thu giữ gồm: 02 (hai) gói nilon màu trắng, trong đó 01 gói chứa 01 (một) viên nén màu xám và 01 (một) gói chứa 02 (hai) viên ném màu hồng (Q tự giác lấy ở dưới thảm lót sàn xe tại vị trí ghế lái của xe tô tô ra giao nộp khai nhận là ma túy).
Ngoài ra còn tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6s vỏ màu xám, kèm 01 sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 210 vỏ màu đen, kèm 01 sim điện thoại; 01 (một) ô tô nhãn hiệu Huynhdai loại GRAND i10 SEDAN 1.2 MT vỏ màu trắng, mang biển kiểm soát 24A 136.18.
Quá trình điều tra, Vũ Hồng Q khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 18 giờ ngày 18/4/2020, Vũ Hồng Q điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huynhdai loại GRAND i10 SEDAN 1.2 MT vỏ màu trắng, mang biển kiểm soát 24A 136.18 đến khu vực phường Cốc L, thành phố Lào Cai thì gặp một người đàn ông không quen biết hỏi và mua được 02 gói ma túy với giá 600.000 đồng. Mua được ma túy Q cất giấu dưới thảm lót sàn xe tại vị trí ghế lái của xe tô tô rồi điều khiển xe về nhà, Q lấy gói ma túy chứa 01 viên bẻ lấy một nửa sử dụng bằng cách nuốt. Đến khoảng 6 giờ 30 phút ngày 23/4/2020 có Phạm Văn D, sinh năm 1973, trú tại: thôn Bảo T, xã Bảo Nh, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai thuê chở lên tỉnh Sơn La. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì Q, D đến thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. D bảo Q dừng xe để đón Trần Mạnh Đ, sinh năm 1964, trú tại: tiểu kh, thị trấn Hát L, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Khi Dương, Q, Đản đi đến khu vực bản Nà Hạ 2, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La bị tổ Công tác Đội 2, phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Sơn La, phối với Công an xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Ngày 24/4/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Mai Sơn đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu gửi giám định vật chứng, kết quả: 01 (một) viên ném màu xám có khối lượng là 0,5 gam, trích rút toàn bộ 0,5 gam ký hiệu M1, làm mẫu trưng cầu giám định ma túy; 02 (hai) viên nén màu hồng có khối lượng là 0,39 gam, trích rút toàn bộ 0,39 gam ký hiệu M2, làm mẫu trưng cầu giám định ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 664/KLMT ngày 27/4/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2 đều là ma tuý; loại MDMA; khối lượng của mẫu gửi giám định là M1 = 0,50 gam; M2 = 0,39 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,89 gam; loại MDMA”. Hoàn lại mẫu giám định M1 = 0,39 gam; M2 = 0,29 gam.
Về nguồn gốc 0,89 gam Methamphetamine: Bị cáo Vũ Hồng Q khai mua của một người nam giới (không biết họ, tên, tuổi và địa chỉ) vào ngày 18/4/2020 tại khu vực phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Ngoài lời khai của bị cáo, không còn nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Mai Sơn không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 73/CT-VKSTP ngày 03/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Vũ Hồng Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Vũ Hồng Q từ 18 (mười tám) tháng đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù.
Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 0,39 gam MDMA ký hiệu M1; 0,29 gam MDMA ký hiệu M2; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 02 mảnh nilon màu trắng,
Trả lại cho bị cáo Vũ Hồng Q: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6s vỏ màu xám, kèm 01 sim điện thoại, màu hình vỡ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 210 vỏ màu đen, kèm 01 sim điện thoại.
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn đã trải lại cho Công ty Công ty TNHH MTV Năng Vũ: 01 (một) ô tô nhãn hiệu Huynhdai loại GRAND i10 SEDAN 1.2 MT vỏ màu trắng, mang biển kiểm soát 24A 136.18.
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Hồng Q nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty Công ty TNHH MTV Năng Vũ, đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Thành Trung đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và gửi ý kiến đến Hội đồng xét xử, do đó việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Trung.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, qua xét hỏi bị cáo Vũ Hồng Q khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát huyện Mai Sơn đã truy tố đối với bị cáo. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù lợp với các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở pháp lý kết luận:
Ngày 23/4/2020, Vũ Hồng Q đã có hành vi cất giấu trái phép 0,89 gam MDMA với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản Nà Hạ 2, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ: Lời khai nhận tội của bị cáo; Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 16giờ 35 phút ngày 23/4/2020 tại bản Nà Hạ 2, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đối với Vũ Hồng Q cùng vật chứng thu giữ là 0,89 gam MDMA; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 664 ngày 27/4/2020 của phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Sơn La; Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1983, trú tại bản Nà Hạ 2, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận điều tra.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Hồng Q đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố và Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 5 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oai sai.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy và hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Xét cần xử phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung.
Xét tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, Ngày 30/6/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xử phạt 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo phạm tội trong thời gian chưa được xoá án tích, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h “tái phạm” khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Vũ Hồng Q (Q không biết rõ tên tuổi, địa chỉ). Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Mai Sơn không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Do đó buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma tuý bị thu giữ.
Đối với Phạm Văn Dương, Trần Mạnh Đản là người đi cùng xe ô tô với Q nhưng Dương, Đản không biết Q tàng trữ trái phép chất ma túy, không liên quan đến hành vi phạm tội của Q. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn không đặt vấn đề xử lý đối với Đản, Dương trong vụ án này.
Vật chứng vụ án:
Đối với 0,39 gam MDMA ký hiệu M1; 0,29 gam MDMA ký hiệu M2 còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định là chất ma túy loại MDMA, thuộc loại Nhà nước cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Đối với 01 (một) vỏ phong bì niêm phong bóc mở ban đầu; 02 mảnh nilon màu trắng là vật bị cáo dùng để cất giấu sử dụng ma túy, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ. Theo điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6s vỏ màu xám, kèm 01 sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 210 vỏ màu đen, kèm 01 sim điện thoại. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên qua đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Vũ Hồng Q. Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Đối với 01 (một) ô tô nhãn hiệu Huynhdai loại GRAND i10 SEDAN 1.2 MT vỏ màu trắng, mang biển kiểm soát 24A 136.18. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH MTV Năng V. Bị cáo cất giấu tàng trữ trái phép chất ma túy trên xe ô tô Công ty không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Trong giai khởi tố vụ án Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn đã trả lại cho chủ sở hữu quản lý sử dụng. Công ty TNHH MTV Năng V đã nhận được tài sản và không có ý kiến yêu cầu gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
Về án phí: Do hành vi phạm tội của bị cáo nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Vũ Hồng Q 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 23/4/2020).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 0,39 gam MDMA ký hiệu M1; 0,29 gam MDMA ký hiệu M2; 01 (một) vỏ phong bì niêm phong bóc mở ban đầu; 02 (hai) mảnh nilon màu trắng.
Trả lại cho bị cáo Vũ Hồng Q: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6s vỏ màu xám, kèm 01 sim, điện thoại đã bị rạn vỡ màu hình, đã qua sử dụng cũ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 210 vỏ màu đen, kèm 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng cũ.
(Số lượng, khối lượng, đặc điểm, tình trạng vật chứng, tài sản theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/08/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Vũ Hồng Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/8/2020); Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai./. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Sơn La;
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
- VKSND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (2);
- THADS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La;
(Đã ký)
- Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La;
- THAPT (2);
- Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
- Người tham gia tố tụng.
- Lưu.
Nguyễn Thị Phượng
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thị Phượng
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (2); - THADS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; - Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; - THAPT (2); - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Phượng THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Phượng |