vanban.org

Bản án 66/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Tuyên án 18/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 03/9/2020. Về xử l vật chứng: Áp dụng vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2020/HS-ST
Ngày 18 - 11 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Quốc Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Chu Nhương;

2. Bà Trần Thị Ngọc.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hân - Thư Toà án nhân dân huy n L Nhân, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Trương Hoàng Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n L Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công hai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l số: 68/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1977 tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huy n L, tỉnh Hà Nam; nghề nghi p: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Nguyễn Thị P và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2020 đến nay; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huy n L, tỉnh Hà Nam; có mặt.

* Người làm chứng: Anh Ngô Văn L; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 03/9/2020, tại trục đường ĐT492 thuộc địa phận thôn Q, xã V, huy n L, tỉnh Hà Nam, tổ tuần tra iểm soát giao thông Công an huy n L Nhân phối hợp với Công an xã V phát hi n Nguyễn Văn T đang điều hiển xe mô tô nhãn hi u Ware BKS 18S2-4554 hông đội mũ bảo hiểm nên yêu cầu dừng phương ti n iểm tra hành chính. Quá trình iểm tra đối với Nguyễn Văn T, phát hi n và thu giữ trong lòng bàn tay trái của T 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong trong phong bì hi u QT, Tuyên hai đó là Heroine bị cáo vừa mua để sử dụng cho bản thân; 01 xe mô tô nhãn hi u Ware BKS 18S2-4554.

Tiến hành hám xét chỗ ở, đồ vật của Nguyễn Văn T hông thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.

Tại bản ết luận số 172/PC09-MT ngày 07/9/2020 của Phòng ỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, ết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy có khối lượng là 0,190g (Không phảy một trăm chín mươi gam), loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số 71/CT-VKSLN ngày 29/10/2020 của Vi n iểm sát nhân dân huy n L Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại di n Vi n iểm sát nhân dân huy n L Nhân giữ nguyên cáo trạng truy tố Nguyễn Văn T, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 24 đến 30 tháng tù và hướng xử l vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Nguyễn Văn T hai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Vi n iểm sát nhân dân huy n L nhân đã truy tố; bị cáo hông có iến tranh luận, bào chữa hay hiếu nại gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, chị Nguyễn Thị P hông có iến tranh luận gì, đề nghị xét xử theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo và những người tham gia tố tụng hác hông có hiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hi n đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh: Lời hai của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời hai của những người tham gia tố tụng hác; phù hợp biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng của vụ án thu được, ết luận giám định cùng các tài li u có trong hồ sơ vụ án. Do đó đủ cơ sở ết luận: Hồi 09 giờ 20 phút ngày 03/9/2020 tại thôn Q, xã V, huy n L, tỉnh Hà Nam, Công an huy n L Nhân phối hợp với Công an xã V phát hi n Nguyễn Văn T đang cất giấu trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine có hối lượng 0,190gam để sử dụng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quan điểm kết tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản l các chất ma tu của Nhà nước. T nạn ma túy có chiều hướng gia tăng để lại nhiều hậu quả nặng nề cho gia đình có người nghi n và xã hội, gây bức xúc, nhức nhối trong nhân dân. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm hắc tương xứng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo hông phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Sau hi phạm tội, bị cáo đã thành hẩn hai báo, ăn năn hối cải; bố mẹ đẻ bị cáo là ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị H đã tham gia cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương háng chiến hạng nhì, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự được quy định tại điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội hông nh m mục đích thu lợi nên hông áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử l vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì niêm phong sau giám định của phòng ỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.

Đối với xe mô tô nhãn hi u Ware BKS 18S2-4554 trị giá 1.423.200 đồng và đăng xe mang tên Trần Hải Đ. Quá trình điều tra xác định là tài sản chung hợp pháp của bị cáo và chị Nguyễn Thị P, chị P hông biết bị cáo sử dụng chiếc xe trên để thực hi n tội phạm. Tuy nhiên, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và quyền sở hữu về tài sản; nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước giá trị 1/2 chiếc xe và đăng xe, 1/2 giá trị chiếc xe còn lại trả cho chị Nguyễn Thị P là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền háng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền háng cáo theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số ma tu thu giữ: Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T khai mua số Hêrôin trên của một người hông rõ tên tuổi, địa chỉ ở hu vực nhà thờ Q, xã V, huy n L Nhân, tỉnh Hà Nam với giá 300.000 đồng để sử dụng. Ngoài lời hai của T hông còn tài li u nào hác nên hông có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Căn cứ điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 03/9/2020.

2. Về xử l vật chứng: Áp dụng vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong số 172/PC09-MT ghi mẫu vật hoàn trả QT của phòng ỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: Giá trị 1/2 chiếc xe mô tô nhãn hi u Ware BKS 18S2-4554 và đăng xe mang tên Trần Hải Đ, 1/2 giá trị của chiếc xe còn lại tại thời điểm Chi cục thi hành án quyết định thi hành án trả lại cho chị Nguyễn Thị P.

(Tình trạng, đặc điểm, số tiền vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lý Nhân với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân lập ngày 30/10/2020).

3. Về án phí: Áp dụng hoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; hoản 1 Điều 21, hoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản l và sử dụng án phí, l phí Tòa án:

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền háng cáo bản án: Bị cáo, người có quyền lợi ngĩa vụ liên quan được quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, ể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ