vanban.org

Bản án 66/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị Vinh được ly hôn anh Trần Văn Minh.

Về con chung: Không có Về quan hệ tài sản chung và công nợ: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vinh - Minh"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị Vinh được ly hôn anh Trần Văn Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỀN HẢI
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 11 - 11-2020
V/v Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Cúc và bà Trương Thị Ngoãn.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Pham Văn Nhất - Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiền Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 194/2020/TLST - HNGĐ ngày 09/10/2020 về việc: “Xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 20/10/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Vinh, sinh năm 1984 (Có mặt).

Địa chỉ: Khu 6, xã Tạ Xá, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ

- Bị đơn: Anh Trần Văn Minh, sinh năm 1981(Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi ĐKHKTT: Thôn Bình Thành, xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

Địa chỉ: Đội 20 K4, trại giam Thanh Phong, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện về việc xin ly hôn, quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn - chị Đỗ Thị Vinh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn Minh tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau, được Ủy ban nhân dân xã Nam Phú, huyện Tiền Hải đăng ký kết hôn vào ngày 19 tháng 10 năm 2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại gia đình nhà anh Minh thôn Bình Thành, xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Minh rất nhiều lần uống rượi say rồi về đánh đập, chửi bới và đuổi chị về nhà ngoại. Đầu năm 2012 cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh Minh rơi vào tình trạng bế tắc nên chị và anh Minh chính thức sống ly thân từ đó đến nay. Hiện tại anh Minh đang chấp hành án phạt tù tại trại giam Thanh Phong, Thanh Hóa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay về chung sống cùng anh Minh được nữa, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Minh.

Về quan hệ con chung: Chị và và anh Minh không có con chung và hiện tại chị cũng không có thai.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị và anh Minh không có tài sản gì chung, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ.

Tại đơn trình bày và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Trần Văn Minh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đỗ Thị Vinh tự nguyện kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình vào năm 2011. Sau khi kết hôn được 01 năm vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mẫu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, hôn nhân rơi vào bế tắc không thể cứu vãn, chị Minh đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ năm 2012 đến nay. Hiện tại anh đang chấp hành án tại đội 20k4 trại giam Thanh Phong, Thanh Hóa, nhưng từ khi anh đi chấp hành án đi nay, mặc dù biết nhưng chị Vinh cũng chưa lần nào đến thăm anh và cũng không quan tâm gì đến anh. Nay nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa anh và chị Minh đã không còn hạnh phúc vợ chồng không còn yêu thương nhau nữa nên đồng ý ly hôn chị Vinh.

Về quan hệ con chung: Anh và chị Vinh không có con chung

Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Anh và chị Vinh không có gì chung, anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Hiện nay anh đang chấp hành án tại trại giam Thanh Phong, tỉnh Thanh Hóa nên không thể tham gia phiên tòa được nên anh đề nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và các phiên xét xử.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và các đương sự đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho chị Đỗ Thị Vinh được ly hôn anh Trần Văn Minh. Về quan hệ con chung: Không có. Về quan hệ tài sản chung và công nợ: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Xét thấy nguyên đơn là chị Đỗ Thị Vinh khởi kiện xin ly hôn anh Trần Văn Minh, anh Minh có hộ khẩu thường trú tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã thụ lý và giải quyết yêu cầu của chị Vinh là đúng thẩm quyền.

Bị đơn là anh Trần Văn Minh có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Minh là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Vinh và anh Trần Văn Minh tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình vào năm 2011 xác định là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chị Vinh và anh Minh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cuộc sống hôn hôn rơi vào tình trạng bế tắc không có hạnh phúc. Chị Vinh đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở Phú Thọ sống từ năm 2012 đến nay không còn quan tâm gì đến anh Vinh nữa. Nay chị Vinh có đơn xin ly hôn anh Minh, anh Minh đồng ý ly hôn với lý do anh nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa anh và chị Vinh đã không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn yêu thương nhau. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị Vinh và anh Minh đã trầm trọng, đời sống chung trên thực tế không tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Vinh, xử cho chị Vinh được ly hôn anh Minh là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Không có

Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Không có

Về án phí: Chị Đỗ Thị Vinh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị Vinh được ly hôn anh Trần Văn Minh.

2. Về con chung: Không có

3. Về quan hệ tài sản chung và công nợ: Không có.

4. Về án phí: Chị Đỗ Thị Vinh phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng chị Vinh đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0009676 ngày 09/10/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải thành án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, chị Đỗ Thị Vinh có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 11/11/2020, anh Trần Văn Minh có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ