- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn giữa nguyên đơn Hồ Thị Diễm M với bị đơn Nguyễn Thanh L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Hồ Thị Diễm M được ly hôn với anh Nguyễn Thanh L.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2020/HNGĐ-ST Ngày: 30/9/2020 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoài Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Lai
2/ Ông Hoàng Quang Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cam Lâm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trƣơng Thị Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 43/2020/TLST-HNGĐ ngày 26/02/2020 về việc: “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2020/QĐST-HNGĐ ngày 27/8/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2020/QĐST-HNGĐ ngày 14/9/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Diễm M - Sinh năm: 1989
Địa chỉ: thôn K, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên toà)
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh L - Sinh năm: 1984
Địa chỉ: thôn K, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Trong đơn khởi kiện đề ngày 19/2/2020, bản tự khai ngày 05/3/2020, nguyên đơn chị Hồ Thị Diễm M trình bày:
Về yêu cầu ly hôn: Chị Hồ Thị Diễm M và anh Nguyễn Thanh L sống chung với nhau năm 2011, nhưng đến năm 2014 mới đăng ký kết hôn và được UBND xã S cấp giấy chứng nhận kết hôn số 30/2014 quyển số I ngày 18/4/2014.
Quá trình chung sống: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị M đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên kình cãi nhau. Nguyên nhân là do trước khi kết hôn với anh L, chị M đã có một người con riêng nhưng anh L không chấp nhận cháu, nhiều lần không cho cháu vô nhà. Mỗi khi chị M khuyên giải thì anh L gây sự đánh chị M và đốt đồ đạc trong nhà. Chị M và anh L đã sống ly thân nhau từ 01/2020 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị M nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã quá trầm trọng, vợ chồng không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống cùng nhau được nên chị M yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thanh L.
Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Chị M và anh L có 02 con chung là cháu Nguyễn Hồ Vũ K sinh ngày 20/12/2011 và cháu Nguyễn Hồ Khánh H sinh ngày 01/12/2016. Hiện nay, các cháu V, H đang ở với chị M, chị M yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:
- Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Hồ Thị Diễm M đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn anh Nguyễn Thanh L không chấp hành các quy định của pháp luật về tố tụng, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.
- Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn cũng như về việc nuôi con, cấp dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ngày 19/02/2020, chị Hồ Thị Diễm M có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Thanh L, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Hồ Thị Diễm M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Thanh L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2] Về yêu cầu ly hôn: Chị Hồ Thị Diễm M và anh Nguyễn Thanh L tự nguyện kết hôn với nhau năm 2014 và được UBND xã Suối Cát cấp giấy chứng nhận kết hôn số 30/2014 quyển số I ngày 18/4/2014, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống giữa chị M và anh L đã xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên kình cãi nhau. Nguyên nhân là do anh L không chấp nhận người con riêng của chị M, thường xuyên có hành vi ngược đãi, không cho cháu vào nhà. Chị M đã khuyên giải nhưng anh L gây chuyện nhiều lần đánh chị và đốt đồ đạc trong nhà làm cho không khí gia đình căng thẳng. Chị M và anh L đã sống ly thân nhau từ tháng 01/2020 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để hòa giải nhưng anh L vẫn cố tình vắng mặt, cho thấy thái độ bất cần, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng của anh L. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh L đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Hồ Thị Diễm M là có căn cứ.
[3] Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Chị M và anh L có 02 con chung là cháu Nguyễn Hồ Vũ K sinh ngày 20/12/2011 và cháu Nguyễn Hồ Khánh H sinh ngày 01/12/2016. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu K và cháu H đang ở cùng với chị M, cháu K có nguyện vọng ở với mẹ, cháu Hân còn bé nên cần sự chăm sóc của mẹ. Vì vậy, để đảm bảo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc và phát triển thể chất của các cháu K, H nên chấp nhận yêu cầu của chị M, giao các cháu K, H cho chị M nuôi dưỡng, giáo dục.
Chị M không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên không xét.
[4] Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Chị Hồ Thị Diễm M không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[5] Về án phí: Chị Hồ Thị Diễm M phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Hồ Thị Diễm M được ly hôn với anh Nguyễn Thanh L.
2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con:
- Giao cháu Nguyễn Hồ Vũ K sinh ngày 20/12/2011 và cháu Nguyễn Hồ Khánh H sinh ngày 01/12/2016 cho chị Hồ Thị Diễm M được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hồ Thị Diễm M không yêu cầu nên không xét.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
3. Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Chị Hồ Thị Diễm M không yêu cầu giải quyết nên không xét.
4. Về án phí: Chị Hồ Thị Diễm M phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2018/0008063 ngày 25/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cam Lâm; chị Hồ Thị Diễm M đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
6. Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện Cam Lâm; - THADS huyện Cam Lâm; - UBND xã S; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Hoài Tâm |