vanban.org

Bản án 66/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 08/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân K 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án 08/8/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân K - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? I. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2019/HS-ST
Ngày: 08-8-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Châu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lệ Hoa

2. Ông Nguyễn Văn Cường

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn An Phước – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết Em - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 62/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 60/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Xuân K, sinh năm 1996; nơi sinh: tỉnh Vĩnh Long.

Nơi cư trú: Số B, Khóm M, Phường C, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Sinh viên; cha tên Nguyễn Điền N, sinh năm 1979, mẹ tên Lê Thị D, sinh năm 1981. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị cáo được cho tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Anh Ngô Đào Bảo T, sinh năm: 1993

Nơi cư trú: Số B, ấp C, xã A, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt)

2. Anh Huỳnh Thanh L, sinh năm: 1993

Nơi cư trú: Số M, đường T, Khóm M, Phường N, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Tô Thị L, sinh năm: 1950.

Nơi cư trú: Số B, Khóm M, Phường C, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Xuân K là nhân viên giao hàng cho Công ty VinaCapitel VN chi nhánh Vĩnh Long, địa chỉ: G đường P, Khóm S, Phường T, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long do anh Ngô Đào Bảo T làm giám đốc quản lý. Tối 16/3/2019 bị cáo K đi uống rượu cùng với anh Huỳnh Thanh L là nhân viên làm chung với bị cáo tại công ty. Đến khoảng 01 giờ ngày 17/3/2019 bị cáo K trở về Công ty ngủ nhờ thì bị cáo nhìn thấy máy tính xách tay hiệu Acer vỏ màu đen nhám đang để trên bàn làm việc của anh T nên nảy sinh ý định lấy trộm mục đích là đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau đó, bị cáo K đi đến chỗ cầu dao điện ngắt nguồn điện để tắt camera an ninh của công ty và tắt đèn rồi quay lại lấy máy laptop của anh T để lên rổ xe máy mà bị cáo đang đậu bên ngoài rồi quay trở vào kêu anh L ra đóng cửa công ty để bị cáo về. Lúc này anh L đã ngủ say, bị cáo K dùng tay đánh thức anh L thì phát hiện bóp tiền của anh L rớt ra trên giường nên bị cáo K thò tay lấy trộm cái bóp của anh L cất vào trong túi quần của mình rồi nhanh chóng quay trở ra đóng cửa công ty điều khiển xe về nhà. Trên đường về K đi tới khu vực gần Phòng cảnh sát quản lý hành chính Công an tỉnh Vĩnh Long đường Đ, Phường B, thành phố Vĩnh Long mở bóp ra lấy hết số tiền bên trong sang qua bóp tiền của mình rồi quăng cái bóp của anh L vào thùng rác gần đó, còn máy laptop do sợ bị phát hiện nên bị cáo K không dám mang về nhà mà khi đi tới đường T, Phường H, thành phố Vĩnh Long thì bị cáo vứt xuống mé sông rồi quay về nhà. Sáng hôm sau bị cáo mang tiền ra đếm thì biết số tiền trộm được là 16.404.000 đồng.

Đến 08 giờ ngày 17/3/2019 anh L thức dậy tìm cái bóp nhưng không thấy, anh T đến công ty thì phát hiện mất laptop nên cả hai đến Công an Phường 4, thành phố Vĩnh Long trình báo sự việc mất trộm và nghi ngờ bị cáo Nguyễn Xuân K là người lấy trộm số tài sản trên. Công an Phường 4, thành phố Vĩnh Long mời bị cáo K về trụ sở để ghi lời khai thì bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi lấy trộm tài sản và giao nộp số tiền lấy trộm là 16.404.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 21 ngày 25/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Vĩnh Long kết luận: Máy Laptop Acer có giá trị 4.347.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 66/CT-VKSTPVL ngày 26/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long truy tố bị cáo tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân K mức án từ 06 đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Ngô Đào Bảo T và Huỳnh Thanh L đã nhận lại tài sản, tiền bồi thường đầy đủ và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm thiệt hại nên không xem xét giải quyết.

Án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Xuân K nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Xuân K đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình đúng như cáo trạng đã nêu và đồng ý với tội danh mà bị cáo bị truy tố. Bị cáo không tham gia tranh luận, trong phần nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long và Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục và thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa Bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long và Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Do có quan hệ quen biết từ trước và đang làm việc cùng công ty với các bị hại. Vì cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào tối ngày 17/3/2019 bị cáo K đã lợi dụng sơ hở của bị hại lúc say rượu và ngủ say nên đã lén lút lấy trộm máy laptop của anh Ngô Đào Bảo T và cái bóp da bên trong có 16.404.000 đồng của anh Huỳnh Thanh L. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" tội danh và hình phạt được được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự; tài sản bị chiếm đoạt có tổng giá trị 20.751.000 đồng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là chính xác.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tội phạm thực hiện ít nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản người khác. Bị cáo có đầy đủ năng lực để nhận thức được tài sản thuộc quyền sử hữu của người khác phải được mọi người tôn trọng, được pháp luật bảo vệ, nếu ai xâm phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật. Bị cáo là thanh niên có sức khỏe, có nghề nghiệp ổn định, nhưng chỉ vì lòng tham nhất thời mà phạm tội. Với hành vi phạm tội này, bị cáo cần phải nhận một hình phạt tương ứng trong khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã bồi thường toàn bộ tài sản cho bị hại và được bị hại bãi nại; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; có nhân thân tốt; ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng. Việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục cũng đủ để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận tài sản và bồi thường xong không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Đối với số tiền bị cáo K bồi thường cho bị hại Ngô Đào Bảo T do tài sản không thu hồi được là tiền bà Tô Thị L cho bị cáo để bồi thường. Bà L không yêu cầu bị cáo trả lại nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

I. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân K 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án 08/8/2019.

Giao bị cáo Nguyễn Xuân K cho Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

II. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Xuân K nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Xuân K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ