- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66 /2019/HSST Ngày: 14/5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Thắng
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Mai Phương
Bà Uông Thị Hoa
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Lan Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Vũ Anh T - Kiểm sát viên.
Ngày 14/5/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2019/HSST ngày 16/4/2019 đối với bị cáo: Trịnh Anh T; Sinh năm: 1987; HKTT và nơi ở: H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trịnh Văn P – sinh năm 1949; Con bà: Trần Thị H – sinh năm:1965; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án: 02 tiền án: Ngày 01/11/2004, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xử tội Gây rối trật tự công cộng, phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ, chấp hành xong án phí tháng 01/2005; Ngày 25/10/2016, Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Hà Nội xử tội Trộm cắp tài sản, xử phạt 12 tháng tù giam, ra trại ngày 18/7/2017. Tiền sự: 02 tiền sự: Cai nghiện bắt buộc và sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/01/2019, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 3h00 ngày 11/01/2019, tại khu vực trước cửa nhà số 32 phố Hòe Nhai, phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình,thành phố Hà Nội, tổ công tác C3 D5 PK20F – Công an thành phố Hà Nội kiểm tra hành chính đối với Trịnh Anh T. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay trái của T 08 (tám) gói nilon màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng, T khai là ma túy “đá” nên tổ công tác đã đưa T cùng tang vật về trụ sở công an phường N để giải quyết.
Tổ công tác đã thu giữ: 08 gói nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM-G531HIDS màu trắng đã qua sử dụng (IMEI 1: 356400074068844, IMEI 2: 356401074068842); 01 CMND và 01 giấy phép lái xe mang tên Trịnh Anh T; 01 xe máy Honda Wave màu xanh BKS: 29S1 - 695.17 (số máy: 141555, số khung: 141934) và tiền Việt Nam trị giá 1.600.000 đồng.
Kết luận giám định số 537/KLGĐ-PC09 ngày 17/01/2019 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố Hà Nội xác định: “Tinh thể màu trắng bên trong 08 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 3,222 gam”.
Tại cơ quan điều tra, Trịnh Anh T đã khai nhận như sau: khoảng 2h00 ngày 11/01/2019 T đi xe máy Honda Wave màu xanh, BKS: 29S1 - 695.17 từ nhà đến khu vực cổng chợ Long Biên gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 08 gói ma túy “đá” giá 1.500.000 đồng, sau đó T cầm số ma túy trong lòng bàn tay trái đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 3h00 cùng ngày, khi đang ngồi trên xe máy tạikhu vực trước cửa nhà số 32 phố Hòe Nhai thì bị công an kiểm tra, bắt giữ cùng vật chứng.
Về nguồn gốc số ma túy, T khai mua của một đối tượng không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý.
Đối với chiếc xe máy Honda Wave màu xanh BKS: 29S1 - 695.17, cơ quan điều tra xác minh thấy đây là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị H (sinh năm: 1965, trú tại: H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội), mẹ đẻ của Trịnh Anh T và 01 CMND, 01 Giấy phép lái xe đều mang tên Trịnh Anh T là những giấy tờ, tài sản không liên quan tới hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà H.
Tại cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 10 tháng 4 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố bị cáo T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trịnh Anh T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo T mức án từ 40 tháng đến 45 tháng tù; không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo. Tịch thu, sung công quỹ số tiền 1.600.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM-G531HIDS màu trắng đã qua sử dụng (IMEI 1: 356400074068844, IMEI 2: 356401074068842) là tài sản cá nhân đã thu giữ của bị cáo.
Bị cáo Trịnh Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, biên bản niêm phong tang vật, kết luận giám định và phù hợp với các biên bản, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố bị cáo về hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội của Viện kiểm sát và đề nghị của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án.
Những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 3h00 ngày 11/01/2019, tại khu vực trước cửa nhà số 32 phố Hòe Nhai, phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Trịnh Anh T đã có hành vi tàng trữ trái phép 08 gói Methampetamine, tổng khối lượng 3,222 gam, mục đích để sử dụng đã bị tổ công tác C3 D5 PK20F Công an thành phố Hà Nội bắt quả tang cùng vật chứng.
Hành vi phạm tội của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy là chất gây nguy hại cho con người và cho xã hội, nó làm tha hóa đạo đức, lối sống, làm mất lý trí con người, làm tan vỡ nhiều hạnh phúc gia đình; đồng thời ma túy còn là mầm mống cho các loại tội phạm khác, như tội trộm cắp, tội cướp, cướp giật... Nhà nước thống nhất quản lý và có chính sách tuyên truyền rộng khắp trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người phòng tránh. Bởi vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Khi lượng hình phạt: Bị cáo đã có 02 tiền án và 02 tiền sự, thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu. Trong đó, bản án số 452/HS-ST ngày 01/11/2004 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội Gây rối trật tự công cộng không được coi là án tích vì bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng khi chưa đủ 18 tuổi theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự; Bản án số 157/2016/HSST ngày 25/10/2016, Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Hà Nội xử 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích mà còn tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, nên để cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo T không có nghề nghiệp ổn định nên xét không áp dụng phạt tiền làm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án đã bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình gồm: 01 gói niêm phong trong có ma túy loại Methamphetamine trọng lượng 3,222 gam là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; Tịch thu, sung công quỹ số tiền 1.500.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM-G531HIDS màu trắng đã qua sử dụng (IMEI 1: 356400074068844, IMEI 2: 356401074068842) là tài sản cá nhân đã thu giữ của bị cáo, theo Điều 47, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trịnh Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015;
Căn cứ khoản 2 điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Xử phạt: Trịnh Anh T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù được tính từ ngày 11/01/2019.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 3,222 gam Methamphetamine đã qua giám định, có chữ ký của giám định viên và Trịnh Anh T; Tịch thu, sung công quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM-G531HIDS màu trắng đã qua sử dụng (IMEI 1: 356400074068844, IMEI 2: 356401074068842) theo biên bản giao vật chứng số: 75 ngày 08 tháng 4 năm 2019 của cơ quan cảnh sát điều tra, công an quận Ba Đình. Tịch thu sung công quỹ số tiền 1.600.000 đồng thu giữ của bị cáo theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 08/4/2019 vào tài khoản của Chi cục thi hành án quận Ba Đình.
Bị cáo Trịnh Anh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TANDTP Hà Nội; - VKS nhân dân quận Ba Đình; - Chi cục THA quận Ba Đình; - Bị cáo;. - Lưu VP, hồ sơ./. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Xuân Thắng |