- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Mạnh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 66/2019/HS-ST Ngày: 25 - 6 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Lợi và ông Lê Văn Tú.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Hương - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Sinh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2019/TL-STHS ngày 16 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
Trần Mạnh D sinh ngày 05/6/1999, tại Ninh Bình. Nơi cư trú: Số nhà B, đường T, phố ĐS, phường BĐ, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn N và bà Đoàn Thị N; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 21/02/2019 đến nay tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. “Có mặt”.
Người làm chứng: Anh Vũ Hải N. “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Mạnh D là người nghiện ma túy. Khoảng 21 giờ ngày 12/02/2019, Trần Mạnh D gặp một người bạn tên là Đ, D chỉ biết nhà ở phường NB, thành phố Ninh Bình tại quán nước ở gầm cầu Vượt TB thuộc phường TB, thành phố Ninh Bình. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, D nói với Đ “Cho em mượn xe đi ra đây có tý việc”, Đ đồng ý. Sau đó D một mình điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đen không đeo biển kiểm soát đến khu vực cầu V thuộc phố AH, phường NP, thành phố Ninh Bình mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến cầu V, D gặp một người nam thanh niên không quen biết đang đứng trên vỉa hè. Biết người nam thanh niên này bán ma túy nên D dừng xe và hỏi “Anh có bán cho em 700.000 đồng ma túy đá” đồng thời lấy trong túi áo bên phải ra số tiền 700.000 đồng đưa cho nam thanh niên, người nam thanh niên cầm tiền rồi đưa lại cho D 01 gói ma túy đá được gói ngoài bằng túi nilon màu trắng kích thước khoảng (5x8) cm. Mua được ma túy D bỏ vào túi quần bò phía trước bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Hồi 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi Trần Mạnh D đi đến khu vực đường M thuộc phố PC, phường NT, thành phố Ninh Bình thì gặp tổ tuần tra Đại đội cảnh sát cơ động Công an tỉnh Ninh Bình đang làm nhiệm vụ phát hiện D điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm, xe mô tô không đeo biển kiểm soát, không có gương chiếu hậu nên yêu cầu D dừng xe để kiểm tra hành chính. D đã tự giác lấy từ trong túi quần bò bên phải đang mặc 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng túi nilon màu trắng kích thước khoảng (5x8) cm bên trong là chất dạng tinh thể màu trắng ra giao nộp cho Tổ tuần tra và khai nhận đó là ma túy đá vừa mua về để sử dụng. Tổ tuần tra đã niêm phong gói nhỏ vừa thu giữ của D vào phong bì thư dán kín theo đúng quy định của pháp luật. Thu giữ của D 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đen không kiểm kiểm soát, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen. Sau đó đưa D cùng vật chứng về trụ sở Công an thành phố Ninh Bình để tiến hành lập biên bản sự việc.
Tại bản Kết luận giám định số 103/KLGĐ-PC09-MT ngày 16/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, kết luận “Chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,6706 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.
Tại bản cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 15/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố Trần Mạnh D ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” . Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Mạnh D từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giam 21/02/2019. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự ; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Mạnh D khai nhận toàn bộ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 30 phút ngày 12/02/2019, tại khu vực đường M, phố PC, phường NT, thành phố Ninh Bình, Trần Mạnh D có hành vi cất giữ trái phép 0,6706 gam chất ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố Trần Mạnh D với tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những đã xâm phạm trực tiếp tới sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn gây mất ổn định trật tự trị an, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Tuy nhiên, vì muốn thoả mãn ý thích cá nhân bị cáo cố tình vi phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khi bị kiểm tra hành chính bị cáo đã tự giác giao nộp gói ma túy cho cơ quan điều tra đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1Điều 51 của BLHS.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và giúp bị cáo từ bỏ ma tuý, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội.
Các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số ma túy D khai mua của một người nam thanh niên không quen biết tại khu vực cầu V thuộc phố AH, phường NP, thành phố Ninh Bình, D không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ của người này nên không có cơ sở điều tra xác minh làm rõ.
Đối với người có tên là Đ, D khai Đ khoảng 20 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1,65m, D chỉ nghe Đ nói nhà ở phường NB, thành phố Ninh Bình, D không biết họ, tên đệm, địa chỉ cụ thể nhà của Đ. Xác minh tại phường NB, thành phố Ninh Bình không có người nào tên là Đ có đặc điểm như trên. Ngoài lời khai của D không còn chứng cứ nào khác nên không có cơ sở điều tra xác minh làm rõ.
Đối với hành vi điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm, xe mô tô không đeo biển kiểm soát, không có gương chiếu hậu của Trần Mạnh D, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã tách phần tài liệu liên quan đến hành vi trên của D đến Đội cảnh sát giao thông Công an thành phố Ninh Bình để giải quyết theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:
Đối với 01 chiếc điện thoại hiệu Nokia màu đen thu giữ của Trần Mạnh D, D không sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy. D ủy quyền cho bà Đoàn Thị N sinh năm 1964, trú tại phố ĐS, phường BĐ, thành phố Ninh Bình, là mẹ đẻ của D nhận lại chiếc điện thoại trên. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà N chiếc điện thoại trên là có căn cứ.
Đối với chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đen không đeo biển kiểm soát thu giữ của Trần Mạnh D, kết quả tra cứu chiếc xe mô tô trên không có trong cơ sở dữ liệu lưu trữ xe máy tang vật trong toàn quốc, xe mô tô mang biển kiểm soát 36L1 - 142.68 đăng ký xe mang tên anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992, trú tại thôn S, xã CN, huyện CT, tỉnh Thanh Hóa. Anh Nguyễn Văn T khai tháng 7 năm 2018 anh mua chiếc xe mô tô trên và làm thủ tục đăng ký xe mang tên anh. Quá trình sử dụng biển số xe mô tô bị rơi mất nhưng anh T chưa làm thủ tục cấp lại biển số xe. Tháng 9/2018 anh T điều khiển xe mô tô trên ra thành phố Ninh Bình chơi, do uống rượu say nên bỏ quên ở quán ăn tại thành phố Ninh Bình nhưng không nhớ ở đâu. Quá trình điều tra D khai khoảng 21 giờ ngày 12/2/2019, D mượn chiếc xe mô tô trên của một người bạn tên là Đ, chỉ biết nhà ở phường NB, thành phố Ninh Bình, không biết địa chỉ cụ thể ở đâu. Do chưa làm rõ được nguồn gốc chiếc xe mô tô trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã tách phần tài liệu liên quan đến chiếc xe mô tô để tiếp tục điều tra xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
Số ma tuý còn lại cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong, cơ quan giám định hoàn trả lại cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Mạnh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Mạnh D 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giam 21/02/2019.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định. (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình ngày 20/6/2019).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Trần Mạnh D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án 25/6/2019.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnhNinh Bình; - VKSND TP. Ninh Bình; - CA TP Ninh Bình; - Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; - THADS TP. Ninh Bình; - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình; - Bị cáo; - Lưu VP, HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Hiền |