- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu q, Hoàng minh Q, Võ Văn H phạm tội "đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i bị cáo Võ Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66 /2019/HS-PT Ngày: 30/5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Lệ Thu
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Hiền
Ông Bùi Đình Thông
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoa, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Phiệt - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 43/2019/TLPT-HS ngày 08 tháng 4 năm 2019 đối v i các bị cáo Trần Hữu Q, Hoàng Minh Q, Võ Văn H do có kháng cáo của các đối v i bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2019/HS-ST ngày 26/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Các bị cáo kháng cáo:
1. Trần Hữu Q; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/10/1989; Nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố 13, Thị trấn C, Huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Q tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: L p 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Bố: Trần Hữu N, Sinh năm: 1955 (Đã mất); Mẹ: Võ Thị L, Sinh năm: 1962, hiện buôn bán và cư trú tại tổ 13 Thị trấn C, Huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 24/8/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên xử phạt 09 tháng tù về tội “Cư p giật tài sản’’ theo Bản án số 11/2006/HSST. Đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích; Ngày 01/11/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản’ theo Bản án số 17/2006/HSST. Đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích; Ngày 26/11/2008, bị Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định số 3392/QĐ-UBND đưa vào cơ sở giáo dục, thời gian 24 tháng; Ngày 18/12/2018 bị Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng’’ theo Bản án số 822/2018/HSPT ngày 18/12/2018; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 08/7/2018 đến ngày 13/7/2018 khởi tố bị can và chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Hoàng Minh Q; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 03/12/1989; Nơi đăng ký HKTT: Thôn 5, xã C, Huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Q tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá; L p 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Bố: Hoàng Hữu Chữ, Sinh năm: 1941; Mẹ đẻ: Trần Thị C, Sinh năm: 1944, Hiện bố mẹ đã hết tuổi lao động và đang cư trú tại xã C, Huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ sáu; Vợ: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 08/7/2018 đến ngày 13/7/2018 khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
3. Võ Văn H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 21/10/1986. Nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố 12, Thị trấn C, Huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Q tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: L p 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Bố: Võ Văn N (Đã mất); Mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1950, Hiện buôn bán và cư trú tại Thị trấn C, Huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Anh chị em ruột: có 04 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 08/7/2018 đến ngày 13/7/2018 khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Quá trình tại ngoại ở địa phương, vào tối ngày 23/12/2018 Hùng đã cùng 08 đối tượng khác đến nhà ông Trần Đình Thanh ở xã Cẩm Lĩnh, huyện Cẩm Xuyên để đòi nợ, gây mất trật tự; nên ngày 25/12/2018 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên bắt tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay, có mặt tại phiên tòa
Các Bị cáo không kháng cáo: Phan Xuân D, Phạm Ngọc T, Trần Q H, Bùi Quang P Nguyễn Ngọc A, Bùi Quang Đ, Hà Huy H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 01 giờ 00 phút, ngày 08/7/2018, tại quán cafe “Phan Trần’’ do ông Phan Xuân T; Sinh năm 1964; ở Tổ dân phố 8, Thị trấn C, Huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (là bố của Phan Xuân Dũng) làm chủ quán, Công an huyện Cẩm Xuyên bắt quả tang Phan Xuân D cùng các đối tượng Trần Hữu Q, Hoàng Minh Q, Phạm Ngọc T, Trần Q Hoàn, Bùi Quang P, Võ Văn H, Nguyễn Ngọc A, Bùi Quang Đ, Hà Huy H đang thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền, dư i hình thức xóc đĩa, v i mức đặt cược thấp nhất là 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), mức cao nhất theo thỏa thuận giữa người đặt cược và người cầm cái. Tang vật thu giữ: Tiền ngân hàng nhà nư c Việt Nam 51.950.000 đồng (Năm mươi mốt triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) gồm: Thu tại chiếu bạc số tiền 19.100.000 đồng (Mười chín triệu một trăm nghìn đồng) và thu giữ trong người các đối tượng tổng cộng 32.850.000 đồng (ba mươi hai triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng), 01 chiếu tre, 04 quân vị hình tròn, 01 chiếc bát và 01 chiếc đĩa làm bằng sứ, 01 quyền vở học sinh ghi chép tiền cho vay đánh bạc. Quá trình điều tra xác định: Phan Xuân D là người cho 09 bị cáo mượn địa điểm của gia đình để đánh bạc, nhằm mục đích cho vay tiền để lấy tiền lãi; tổng cộng D đã cho 06 đối tượng vay 12 lượt v i tổng số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng), thu lợi bất chính số tiền 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng). Tổng số tiền 09 bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 94.660.000 đồng (Chín mươi tư triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng), thu lợi bất chính 25.680.000 đồng (Hai mươi lăm triệu sáu trăm tám nghìn đồng) trong đó: Trần Hữu Q 24.000.000 đồng (Hai mươi tư triệu đồng); Hoàng Minh Q 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng); Phạm Ngọc Thanh 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng); Trần Q Hoàn 10.660.000 đồng (mười triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng), thu lợi bất chính 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng); Bùi Quang P 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng); Võ Văn H 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) thu lợi bất chính 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng); Nguyễn Ngọc A 5.000.000 đồng (năm triệu đồng); Bùi Quang Đ 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), thu lợi bất chính 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng); Hà Huy Hoàng Anh 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) thu lợi bất chính 7.180.000 đồng (bảy triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).
V i hành vi phạm tội nêu trên, tại bản án Hình sự sơ thẩm số: 05/2019/HS-ST ngày 26/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm xuyên, tỉnh Hà Tĩnh quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phan Xuân Dũng phạm tội “Gá bạc”; Các bị cáo Trần Hữu Q, Hoàng Minh Q, Phạm Ngọc T, Trần Q H, Bùi Quang P, Nguyễn Ngọc A, Bùi Quang Đ, Võ Văn H và Hà Huy H phạm tội "Đánh bạc".
- Áp dụng: điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321, Điểm s Khoản 1, 2 điều 51, điều 17, điều 58, điều 56 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: xử phạt Trần Hữu Q 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Tổng hợp bản án số 822/2018/HSPT ngày 18/12/2018 của tòa án nhân dân Cấp Cao tại Hà Nội xử phạt bị cáo Trần Hữu Q 12 tháng tù giam về tội gây rối trật tự công cộng. Buộc bị cáo Trần Hữu Q chấp hành chung là 54 (năm mươi bốn) tháng tù, (bị cáo Q được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/7/2017 đến ngày 23/7/2017). Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam 08/7/2018. Phạt bị cáo Trần Hữu Q 10.000.000 đồng sung công quỹ nhà nư c.
- Áp dụng: điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321, Điểm s Khoản 1, 2 điều 51, điều 54 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: xử phạt Hoàng Minh Q 30 (ba mươi) tháng tù. Bị cáo Quỳnh được trừ thời than tạm giữ tạm giam từ ngày 08/7/2018 đến ngày 13/7/2018. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Phạt bị cáo Hoàng Minh Q 10.000.000 đồng sung công quỹ nhà nư c.
- Áp dụng: điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321, Điểm s Khoản 1,2 điều 51, điều 17, điều 58 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: xử phạt Võ Văn H 6 (sáu tháng) tháng tù. Bị cáo Hùng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/7/2018 đến ngày 13/7/2018. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 25/12/2018. Phạt bị cáo Hùng 10.000.000 đồng sung vào công quỹ nhà nư c.
Xử phạt bị cáo Phan Xuân D 15 tháng tù. Bị cáo Dũng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/7/2018 đến ngày 7/8/2018. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Phạt bị cáo Dũng 20.000.000 đồng sung công quỹ nhà nư c; Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Ngọc Thanh cho chính quyền địa phương xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bị cáo Phạm Ngọc Thanh 10.000.000 đồng sung công quỹ nhà nư c; Xử phạt bị cáoTrần Q H 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trần Q Hoàn cho chính quyền địa phương xã Cẩm Thăng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bị cáo Trần Q Hoàn 10.000.000 đồng sung công quỹ nhà nư c; Xử phạt bị cáo Bùi Quang P 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Bùi Quang Phong cho chính quyền địa phương Thị trấn C, Huyện C, tỉnh Hà Tĩnh quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bị cáo Bùi Quang Phong 10.000.000 đồng sung công quỹ nhà nư c; Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Ngọc Anh cho chính quyền địa phương xã Cẩm Thăng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Anh 10.000.000 đồng sung công quỹ nhà nư c; Xử phạt Bùi Quang Đ 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Bùi Quang Đông cho chính quyền địa phương Thị trấn C, Huyện C, tỉnh Hà Tĩnh quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bị cáo Bùi Quang Đông 10.000.000 đồng sung công quỹ nhà nư c; Xử phạt Hà Huy H 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Hà Huy Hoàng Anh cho chính quyền địa phương Thị trấn C, Huyện C, tỉnh Hà Tĩnh quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bị cáo Hà Huy Hoàng Anh 10.000.000 đồng sung công quỹ nhà nư c.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về vật chứng, biện pháp tư pháp; buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự; tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Trong hạn luật định, ngày 28/02/2019 bị cáo Hoàng Minh Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; Ngày 12/3/2019 bị cáo Trần Hữu Q, bị cáo Võ Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Văn H có đơn xin rút đơn kháng cáo. Bị cáo Trần Hữu Q, bị cáo Hoàng Minh Q vẫn giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Tòa phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Các bị cáo không yêu cầu làm rõ thêm tình tiết gì của vụ án, đồng ý v i tội danh mà HĐXX sơ thẩm đã tuyên.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Xét việc rút đơn kháng cáo của bị cáo Võ Văn H là tự nguyện nên áp dụng khoản 1 Điều 342 và khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự đình chỉ xét xử đối v i bị cáo; Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hữu Q, bị cáo Hoàng Minh Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp v i các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng khi thực hiện hành vi các bị cáo đều nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2019/HS-ST ngày 26-02-2019 của TAND huyện Cẩm Xuyên xét xử các bị cáo Trần Hữu Q, Hoàng Minh Q, Võ Văn H phạm tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321của Bộ luật hình là đúng người, đúng tội, có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, hành vi phạm tội và nội dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đây là một tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội v i lỗi cỗ ý. Do đó, phải chịu chế tài hình sự theo quy định.
Xét kháng cáo của các bị cáo:
Đối v i bị cáo Võ Văn H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã làm đơn xin rút đơn kháng cáo. Xét việc rút đơn của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i bị cáo H.
Đối v i bị cáo Trần Hữu Q khi tham gia đánh bạc mang theo số tiền 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng); trong quá trình đánh bạc có vay của Phan Xuân D hai lần v i tổng số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), đã trả cho D 01 lần v i số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng), còn nợ D chưa trả 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Tại thời điểm bị bắt, cơ quan điều tra thu trong người Trần Hữu Q số tiền 690.000đ (Sáu trăm chín mươi nghìn đồng). Như vậy, tổng số tiền Trần Hữu Q sử dụng để đánh bạc là 24.000.000đ (Hai mươi tư triệu đồng). Bị cáo Q có nhân thân xấu. Tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố đẻ là thương binh 4/4 quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo đã nộp 5.000.000đ (Năm triệu đồng) tiền phạt Vì vậy, cấp phúc thẩm xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo s m có điều kiện trở về làm ăn, giúp đỡ gia đình là cũng đủ nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một người công dân có ích cho xã hội.
Bị Cáo Hoàng Minh Q khi tham gia đánh bạc mang theo số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), trong quá trình đánh bạc Hoàng Minh Q vay của Phan Xuân D 03 lần v i tổng số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) và đã trả lại cho D 03 lần v i tổng số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng); Hoàng Minh Q còn nợ D chưa trả 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Tại thời điểm bị bắt giữ Cơ quan điều tra thu trong người Hoàng Minh Q số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Như vậy, tổng số tiền Hoàng Minh Q sử dụng để đánh bạc là 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng). Bị cáo phạm tội lần đầu được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Có Bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì và là thương binh 4/4; Mẹ đẻ được hưởng chính sách như thương binh quy định tại điểm s khoản 1, 2 điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng và là người trực tiếp thờ cũng Liệt sỹ và trư c khi xét xử phúc thẩm bị cáo đã chủ động nộp toàn bộ tiền phạt bổ sung nên cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối v i bị cáo cũng đủ nghiêm.
Về án phí: Áp dụng điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Q hội quy định mức thu Án phí, lệ phí Tòa án các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 342; khoản 1 Điều 348; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 BLTTHS năm 2015
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i bị cáo Võ Văn H.
- Chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của các bị cáo Trần Hữu Q, Hoàng Minh Q sửa bản án sơ thẩm số 05/2019/HS-ST ngày 26/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm xuyên về phần hình phạt đối v i các bị cáo.
Tuyên bố các bị cáo Trần Hữu Q, Hoàng Minh Q phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321, Điểm s Khoản 1, 2 điều 51, Điều 54, Điều 17, điều 58, điều 56 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: xử phạt Trần Hữu Q 30 (ba mươi) tháng tù. Tổng hợp bản án số 822/2018/HSPT ngày 18/12/2018 của tòa án nhân dân Cấp Cao tại Hà Nội xử phạt bị cáo Trần Hữu Q 12 tháng tù giam về tội gây rối trật tự công cộng. Buộc bị cáo Trần Hữu Q chấp hành chung là 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, (bị cáo Q được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/7/2017 đến ngày 23/7/2017). Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam 08/7/2018. Phạt bị cáo Trần Hữu Q 10.000.000 đồng sung công quỹ nhà nư c. Bị cáo đã nộp 5.000.000 đồng nay còn phải nộp 5.000.000 đồng còn lại.
Áp dụng: điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321, Điểm s Khoản 1, 2 điều 51, điều 54 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: xử phạt Hoàng Minh Q 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tình từ ngày tuyên án phúc thẩm (30/5/2019). Phạt bị cáo Hoàng Minh Q 10.000.000 đồng sung công quỹ nhà nư c. Bị cáo đã nộp đủ.
Giao bị cáo Hoàng Minh Q cho UBND xã C, Huyện C, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu trong thời gian thử thách bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi Hành án hình sự hai lần trở lên, thì tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi pham tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - PV 27 – Công an tỉnh Hà Tĩnh; - TAND,CA,VKS,THA sơ thẩm; - Trại tạm giam công an tỉnh Hà Tĩnh; - Bị cáo; - Lưu HSVA; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Thị Lệ Thu |