- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H, Trần Thị P đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không ch p nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, sửa điều luật áp dụng và giữ nguyên mức hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thị H; ch p nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị P, sửa bản án hình sự sơ thẩm về điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo Trần…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2019/HS-PT Ngày 14-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Cảnh;
Các Thẩm phán: Ông K’ Tiêng
Bà Bùi Thị Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Nam là Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Quyên – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 65/2019/TLPT-HS ngày 04 tháng 7 năm 2019, đối với các bị cáo Nguyễn Thị H và Trần Thị P, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2019/HS-ST ngày 29-5-2019 của Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Thị H, sinh năm 1974 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Tổ A, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung S (đã chết) và bà Lê Thị H, sinh năm: 1948; có chồng Nguyễn Ngọc H (đã ly hôn năm 2011); có 01 con (12 tuổi); tiền án: Không, tiền sự: Ngày 06-7-2018 bị Công an thị xã G, tỉnh Đắk Nông xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” theo Quyết định số 22/QĐ-XPHC; bị bắt tạm giữ từ ngày 22-01-2019 đến ngày 25-01-2019, đang tại ngoại – Có mặt.
2. Trần Thị P, sinh năm 1973 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Tổ A, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần T và bà Lê Thị C (đều đã chết); có chồng Đinh Thái D (đã ly hôn năm 2006) và 02 con; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 22-10-2018 bị Công an thị xã G, tỉnh Đắk Nông xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” theo Quyết định số 42/QĐ-XPHC; bị bắt tạm giữ từ ngày 22-01-2019 đến ngày 25-01-2019, đang tại ngoại – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 21-01-2019 Ngu ễn Thị H, Ngu ễn Xu n S đến nhà Trần Thị P ở tổ A, phường N, thị G chơi. Tại đ , P, H, S rủ nhau đánh ài ph m ăn tiền thì t t cả đồng ý. Lúc nà , P đến quán tạp hóa gần nhà mua 02 ộ ài t (loại 52 lá), sau đó P, H, S đi vào ph ng ngủ ph a sau ph ng khách để đánh ài ăn tiền. Do không mang tiền nên anh S mượn P số tiền là 500.000 đồng. Hình thức chơi đánh ài ph m và tỷ lệ thắng thua được qu định như sau: Người chơi sử dụng 02 ộ ài t , trong đó 01 ộ ài để chia ài cho người chơi và 01 ộ ài để ốc lá ài cá. Người nào thắng s được chia ài, đánh ài trước và được chia 10 lá ài, những người c n lại được chia 09 lá ài, phần ài dư được đặt ở giữa s ng để ốc ài. Sau khi chia ài, người chia ài s đánh ra 01 lá ài cho người ên cạnh th o v ng đánh, nếu người ên cạnh có ài hợp với lá ài vừa được đánh tạo thành ph m ( h m l
m 03 04 lá b i c n ch li n iếp ho c i n nhau) thì gọi là ăn ài, người vừa ăn ài phải đánh ra 01 lá ài cho người ên cạnh th o v ng đánh, nếu không ăn ài thì người chơi phải ốc 01 lá ài ở phần ài giữa s ng ài và đánh ra 01 lá ài sang cho người ên cạnh th o v ng đánh. Người chơi lần lượt ốc ài, đánh ài cho đến khi người nào đánh ra lá ài thứ 4 thì gọi là lá ài chốt hạ và người chơi phải hạ ph m để t nh điểm ph n định thắng thua. Ván ài kết thúc khi t t cả những người chơi đều hạ ph m hoặc có người ( 03 ph m). M i lá ài ị ăn thì người chơi thua số tiền là 10.000 đồng, lá ài chốt hạ ị ăn thì người chơi thua số tiền là 40.000 đồng, người về nh t s thắng số tiền 50.000 đồng, người về nhì thua số tiền 20.000 đồng, người về a thua số tiền 30.000 đồng, người nào s thắng số tiền 100.000 đồng. Cả ba chơi liên tục đến khoảng 22giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an thị xã G phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại sòng bạc 2.570.000đ; Thu trên người các bị can 4.600.000đ và 02 ộ ài t đ qua sử dụng.
Qúa trình điều tra ác định: Tổng số tiền các bị can sử dụng để đánh ạc là 4.370.000 đồng, trong đó Ngu ễn Thị H sử dụng số tiền 3.450.000 đồng, Trần Thị P sử dụng 420.000 đồng; Sơn sử dụng 500.000 đồng vào mục đ ch đánh ạc. Trước đó vào ngà 06-7-2018, Nguyễn Thị H ị Công an thị G ử phạt vi phạm hành ch nh về hành vi đánh ạc trái ph p; ngà 22-10-2018, Trần Thị P ị Công an thị G ử phạt vi phạm hành ch nh về hành vi đánh ạc trái ph p.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2019/HS-ST ngày 29-5-2019 của Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa đ qu ết định: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị H và Trần Thị P phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 05 (Năm) tháng tù.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trần Thị P 04 (B n) tháng tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng; án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 04-6-2019 bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Ngày 10-6-2019 bị cáo Trần Thị P kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị H và Trần Thị P khai nhận hành vi phạm tội của mình và thừa nhận Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan. Các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đ kết luận, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị H và Trần Thị P về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị H, xét th y tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo cung c p tình tiết là đơn in ác nhận con còn nh đang độ tuổi đi học, bị cáo đ l hôn chồng, cha của bị cáo là ông Nguyễn Trung S được tặng thưởng Hu n chương kháng chiến hạng ba, vì vậy tình tiết nà được qu định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ cần ch p nhận. Tuy nhiên ngày 09-7-2019 bị cáo tiếp tục có hành vi đánh ạc bị Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Đắk Nông bắt quả tang về hành vi đánh ạc. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự không ch p nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị H, sửa bản án về điều luật áp dụng. Đối với kháng cáo in được hưởng án treo của bị cáo Trần Thị P, nhận th y bị cáo tham gia trong vụ án với số tiền ít, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo cung c p thêm tình tiết giảm nhẹ mới là đơn in ác nhận bị cáo ly hôn với chồng năm 2006, ị cáo không có công ăn việc làm ổn định, tình tiết nà được qu định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, ch p nhận kháng cáo in được hưởng án treo của bị cáo Trần Thị P, sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị Gia Nghĩa về điều luật áp dụng và giữ nguyên mức hình phạt t nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Qúa trình điều tra ác định: Vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 21-01-2019, tại nhà của Trần Thị P ở tổ A, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông các bị cáo Nguyễn Thị H và Trần Thị P đ đánh bạc bằng hình thức đánh ph m được thua bằng tiền. Tổng số tiền sử dụng vào mục đ ch đánh ạc là 4.370.000 đồng. Do trước đó các bị cáo Nguyễn Thị H và Trần Thị P đ ị xử phạt hành chính về hành vi đánh ạc chưa được xóa án tiền sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị H và Trần Thị P về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị H và kháng cáo in được hưởng án treo của bị cáo Trần Thị P, xét th y:
. Đối với hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị H: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị H cung c p tình tiết là đơn in ác nhận đang nuôi con nh đang độ tuổi đi học, bị cáo đ l hôn chồng, cha của bị cáo là ông Nguyễn Trung S được tặng thưởng Hu n chương kháng chiến hạng ba. Do vậy cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ qu định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần sửa bản án hình sự sơ thẩm về điều luật áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm ngày 09-7-2019 bị cáo tiếp tục có hành vi đánh ạc tại quán cà phê G tại tổ dân phố C, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông bị Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Đắk Nông bắt quả tang về hành vi đánh ạc. Xét th y bị cáo đ ị xét xử về tội “Đánh bạc” nhưng không l đó làm ài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi đánh ạc, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Xét th y bị cáo không có khả năng tự cải tạo nên cần cách ly bị cáo ra kh i cuộc sống xã hội một thời gian nh t định. Do đó, việc Tòa án c p sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 05 (Năm) tháng t là đ m t hết các tình tiết của vụ án và tương ứng với tính ch t, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Vì vậ , không có căn cứ ch p nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị H, cần ch p nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về mức hình phạt đối với bị cáo.
. Đối với hình phạt của bị cáo Trần Thị P: Xét th y bị cáo Trần Thị P chỉ sử dụng r t ít tiền để đánh ạc (420.000 đ ng). Hành vi đánh ạc đ ị xử phạt vi phạm hành ch nh trước đó thì đ được áp dụng làm tình tiết định tội, do đó không xem xét lại lần nữa để đánh giá về nhân thân của bị cáo. Tòa án c p sơ thẩm đ xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai áo qu định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt 04 (B n) tháng tù là phù hợp. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo cung c p thêm tình tiết giảm nhẹ mới đơn in ác nhận bị cáo ly hôn với chồng năm 2006, đang nuôi hai con, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do vậy, cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ qu định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Xét th y, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, có đủ điều kiện được hưởng án tr o qu định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngà 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng về án treo. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm ch p nhận kháng cáo in hưởng án treo của bị cáo Trần Thị P, ch p nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt và điều luật áp dụng: Áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, giữ nguyên mức hình phạt t nhưng cho ị cáo được hưởng án treo.
. Về án phí: Do sửa bản án hình sự sơ thẩm về điều luật áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Thị H; sửa bản án hình sự sơ thẩm về điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo Trần Thị P nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
1. Không ch p nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, sửa điều luật áp dụng và giữ nguyên mức hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thị H; ch p nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị P, sửa bản án hình sự sơ thẩm về điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo Trần Thị P.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 05 (Năm) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn ch p hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án, được kh u trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22-01-2019 đến ngày 25-01-2019.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị P 04 (B n) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách là 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Thị P cho Ủ an nh n d n phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình ị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo tha đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ th o qu định của Luật thi hành án hình sự 02 (Hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải ch p hành hình phạt tù của bản án đ cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải ch p hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới th o qu định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủ an thường vụ Quốc hội qu định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đ có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân c p cao tại thành phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đ; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ, Công an tỉnh Đ; - Công an thị Gia Nghĩa; - Tòa án nhân dân thị Gia Nghĩa; - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gia Nghĩa; - Chi cục thi hành án thị xã G; - Ủy ban nhân dân phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông; - Các bị cáo; - Lưu: Tổ hành ch nh tư pháp, Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký v đ n d u) Phạm Văn Cảnh |