vanban.org

Bản án 66/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về Hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thông Thị H . Chị Thông Thị H được ly hôn anh Thông Minh N .

2/ Về con chung: Giao 01 con tên Thông Thái N – sinh ngày 15/8/2010 cho chị H được quyền tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H không yêu cầu, nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H-N"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về Hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thông Thị H . Chị Thông Thị H được ly hôn anh Thông Minh N .
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2019/ HNGĐ – ST.
Ngày: 08 - 10 - 2019.
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đặng Văn Minh.

2/ Bà Lê Thị Kim Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 08 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 226/2019/TLST – HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2019. Về: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo Quyeát ñònh ñöa vuï aùn ra xeùt xöû soá 66/2019/QÑXXST– HNGÑ ngaøy 04/9/2019; Quyết định Hoãn phiên tòa số 56/2019/QĐST-HNGĐ ngày 19/9/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Thông Thị H - Sinh năm 1988 Địa chỉ: Thôn 3, thị trấn M, huyện H1, tỉnh Bình Thuận

Bị đơn : Anh Thông Minh N – Sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H1, tỉnh Bình Thuận.

Có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 17/4/2019 và tại bản khai, nguyên đơn chị Thông Thị H trình bày: Chị với anh N cưới nhau vào năm 2010 có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M , huyện H1vào năm 2011. Việc vợ chồng chung sống với nhau là do hai bên tự tìm hiểu, thời gian tìm hiểu là 01 năm. Sau khi cưới vợ chồng sống chung với gia đình chị tại thôn 3, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vợ chồng sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh N là người chồng vô trách nhiệm suốt ngày ăn nhậu, đi làm về thì không đưa tiền cho chị lo cho gia đình. Anh N còn là người chồng ghen tuông vô cớ, chị đi làm thì anh N cho rằng đi chơi với người đàn ông khác dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Đến khoảng đầu năm 2018 thì giữa chị với anh N cãi nhau, mâu thuẫn trầm trọng nên anh N đi về nhà mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Từ đó đến nay thì chị với anh N không còn liên lạc gì với nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Thông Minh N .

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Thông Thái N – sinh năm 15/8/2010. Hiện con đang ở với chị H.

Khi ly hôn chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được quyền tiếp tục nuôi con tên Thông Thái N – sinh ngày 15/8/2010 và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cùng chính quyền địa phương đã nhiều lần đến nơi ở của anh N để tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng anh N cố tình lẫn tránh. Tòa án tiến hành niêm yết theo quy định pháp luật, anh N vẫn không đến Tòa án, vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghieân cöùu các tài liệu chứng cứ có trong hoà sô, được thaåm tra tại phiên tòa, nghe tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Chị Thông Thị H yêu cầu được ly hôn với anh Thông Minh N và yêu cầu giải quyết về con chung. Do vậy, xác định quan hệ pháp luật là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Anh Thông Minh N có hộ khẩu thường trú tại xã H , huyện H1. Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, được pháp luật quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét bị đơn anh Thông Minh N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn anh N .

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Chị H và anh N cưới nhau vào năm 2010 có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã thị trấn M , huyện H1, tỉnh Bình Thuận. Sau khi cưới vợ chồng sống chung với gia đình chị. Thời gian vợ chồng chung sống với nhau được hơn 07 năm, nhưng chị cảm thấy chỉ hạnh phúc được 02 năm đầu, thời gian về sau lúc nào cũng cãi nhau. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh N là người chồng vô trách nhiệm, thường xuyên ăn nhậu ít quan tâm đến gia đình. Mặt khác trong cuộc sống hàng ngày vợ chồng không thông cảm và thấu hiểu cho nhau, anh N thường hay ghen tuông vô cớ dẫn đến vợ chồng đối xử ngày càng lạnh nhạt, cuộc sống không có hạnh phúc, và anh N đã bỏ về nhà mẹ ruột ở từ đầu năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian này vợ chồng không có gặp nhau bàn bạc vấn đề hàn gắn, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được và yêu cầu được ly hôn anh Thông Minh N . Sau khi Toøa aùn thụ lý giải quyết, Tòa án đã nhiều lần triệu tập và đến tại nơi ở của anh N để tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không được, nên Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai theo quy định của pháp luật nhưng anh N vẫn không đến Tòa để giải quyết, cũng như không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn. Việc đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không thiết tha gì đến hạnh phúc và hôn nhân của mình. Do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Xét thấy tình cảm giữa chị H với anh N không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục cuộc sống chung được. Do vậy yêu cầu được ly hôn của chị Thông Thị H là có căn cứ, nên chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Thông Thái N – sinh ngày 15/8/2010. Khi ly hôn chị H yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu của chị H là hoàn toàn có căn cứ, vì hiện nay cháu N còn nhỏ cần sự chăm sóc nuôi dưỡng của chị và từ trước đến nay cháu Nguyên cũng ở ổn định cùng với chị H , nên việc chị H yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con là hoàn toàn phù hợp, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Riêng về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, do chị H không yêu cầu, nên không xem xét.

[2.3] Veà taøi saûn và nợ: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Thông Thị H phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Điểm a Khoản 1 Điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Anh Thông Minh N không phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 9, Điều 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 70, 72, Khoản 4 Điều 91, Điều 146, Khoản 4 Điều 147, Điều 207, Khoản 2 Điều 227, 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a Khoản 1 Điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự.

Tuyên Xử:

1/ Về Hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thông Thị H . Chị Thông Thị H được ly hôn anh Thông Minh N .

2/ Về con chung: Giao 01 con tên Thông Thái N – sinh ngày 15/8/2010 cho chị H được quyền tiếp tục nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H không yêu cầu, nên không xem xét.

Anh Thông Minh N được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

3/ Về tài sản và nợ: Không yêu cầu giải quyết.

4/ Về án phí: Chị Thông Thị H phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026637 ngày 08/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, nên không phải nộp nữa.

Anh Thông Minh N không phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án sơ thẩm.

Báo cho bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ