vanban.org

Bản án 66/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 27/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trƣơng Thị Thanh H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Trương Thị Thanh H số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TCDB - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trƣơng Thị Thanh H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2018/HSST
Ngày: 27/3/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Phƣơng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Đức Minh

Ông Nguyễn Văn Khanh

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Long Biên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên tòa: Bà Lê Kim Phƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 03 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 79/2018/HSST ngày 14 tháng 3 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2018/QĐ-HSST ngày 14/3/2018 đối với bị cáo:

TRƢƠNG THỊ THANH H , sinh năm: 1971; HKTT và chỗ ở: số nhà 84 phố Thượng Thanh, tổ 10 phường Thượng Thanh, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; Con ông: Trương Văn X (Chết); Con bà: Nguyễn Thị C (Chết); Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu; Chồng: Nguyễn Văn G; Có 01 con sinh năm 1995.

Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 62 lập ngày 24/12/2017 của Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/12/2017 đến ngày 26/12/2017, hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Đức Q , sinh năm 1977; HKTT: C, T, Thanh Hà, Hải Dương; tạm trú: số A ngách N , phường G, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 21/12/2017, tại số nhà 84 phố Thượng Thanh, phường Thượng Thanh, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, Tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự-Công an quận Long Biên phối hợp với Công an phường Thượng Thanh phát hiện bắt quả tang Trương Thị Thanh H đang có hành vi bán số lô cho Bùi Đức Q , sinh năm 1977; Hộ khẩu thường trú: thôn Cập Thượng, Tiền Tiến, Thanh Hà, Hải Dương. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ tang vật liên quan của Trương Thị Thanh H gồm: 03 Tờ giấy ghi số lô, đề ngày 21/12/2017; 01 sổ ghi kết quả số; số tiền 1.000.000 đồng; 01 điện thoại di động Nokia 215 màu đen, 01 điện thoại Nokia E66. Thu giữ của Bùi Đức Q 01 tờ tích kê mua số lô, đề ngày 21/12/2017. (Cơ quan điều tra đã niêm phong 03 tờ giấy ghi số lô, đề thu của H và 01 tờ giấy tích kê mua số lô, đề thu của Quyền).

Tại Kết luận giám định số 1321/PC54 ngày 09/02/2018, Phòng kỹ thuật Hình sự -Công an thành phố Hà Nội kết luận:

Chữ viết, chữ số trên các tài liệu cần giám định (Ký hiệu từ A1 đến A4) với chữ viết, chữ số đứng tên Trương Thị Thanh H trên các tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu từ M1 đến M3) là chữ do cùng một người viết ra.

Tại cơ quan điều tra, Trương Thị Thanh H khai nhận: Do không có việc làm ổn định, bị cáo mở quán bán nước. Ngày 20/12/2017, bị cáo bắt đầu bán lô, đề cho khách, ôm hết và thu được 500.000 đồng. Đến sáng ngày 21/12/2017, bị cáo nhận làm thư ký bán số lô, đề cho 01 đối tượng nam thanh niên tên Thắng (không xác định được lai lịch, địa chỉ) để hưởng lợi 15% trên tổng số tiền đề và 4,35% trên tổng số tiền lô khi chuyển bảng lô, đề cho Thắng. Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 21/12/2017, khi bị cáo đang bán số lô 00 x 5.000 đồng cho Bùi Đức Q thì bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang.

Ngoài ra, H còn khai nhận: Ngày 21/12/2017, có một số đối tượng (H không rõ lai lịch, địa chỉ) ghi số lô, đề của H qua tin nhắn điện thoại. Cơ quan điều tra đã xác định qua tin nhắn điện thoại gồm: Đối tượng Tiến trọ đánh lô với mức tiền 4.600.000 đồng; Huy trọ đánh đề với mức tiền 300.000 đồng; Tít đánh đề với mức tiền 200.000 đồng; Thành Hà đánh đề với mức tiền 250.000 đồng. Trong tin nhắn H chuyển bảng cho đối tượng Thắng là 2.440.000 đồng. Bị cáo khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của các đối tượng tham gia đánh bạc. Tổng cộng số tiền lô, đề H đã ghi cho khách ngày 21/12/2017 (cả ghi vào giấy và nhận tin nhắn) là: 9.975.000.000 đồng; trong đó: tiền lô là 6.555.000 đồng, tiền đề là 3.420.000 đồng. Trong tổng số tiền ghi lô, đề này, H mới chuyển được một tin nhắn cho Thắng, còn lại chưa chuyển thì bị bắt; H mới thu được 1.000.000 đồng, đã bị Cơ quan Công an tạm giữ, số tiền còn lại, các đối tượng đánh lô, đề chưa trả cho H .

Bản cáo trạng số 75/KSĐT ngày 14/03/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Trương Thị Thanh H về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát quận Long Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa thấy rằng: Hành vi của bị cáo Trương Thị Thanh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Về hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự, có xác nhận của chính quyền địa phương là lao động chính trong gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, áp dụng hình phạt chính đối với bị cáo là phạt tiền với mức tiền phạt từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 sổ kết quả.

- Tịch thu, sung Ngân sách số tiền 1.000.000 đồng thu lợi bất chính, 01 điện thoại di động Nokia 215 màu đen và 01 điện thoại Nokia E66 do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

- Tịch thu lưu hồ sơ 03 tờ giấy ghi số đề ngày 21/12/2017 có chữ ký của Trương Thị Thanh H và 01 tờ giấy ghi số lô ngày 21/12/2017 có chữ ký của Bùi Đức Q .

- Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 500.000 đồng là khoản thu lợi bất chính để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

- Về hành vi , quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo và xuất trình các tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 45 phút ngày 21/12/2017 tại số nhà 84 phố Thượng Thanh, tổ 10 phường Thượng Thanh, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, bị cáo Trương Thị Thanh H đã có hành vi tổ chức đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, đề. Hành vi của Trương Thị Thanh H bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng ngày 21/12/2017. Căn cứ theo quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật Hình sự, số tiền bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là: 9.975.000 đồng (Chín triệu, chín trăm, bảy mươi lăm nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Hành vi của bị cáo xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018, do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm trật tự công cộng được Bộ luật Hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo đã đủ tuổi thành niên, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội do mình gây ra. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Về nhân thân: bị cáo phạm tội lần đầu, số tiền liên quan đến hành vi tổ chức đánh bạc không lớn; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng có văn bản xác nhận, bị cáo là lao động chính trong gia đình; do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt chính là phạt tiền với mức phạt tiền nằm trong khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo nói riêng cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức phạt tiền đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 sổ kết quả do không có giá trị sử dụng.

- Tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng thu lợi bất chính, 01 điện thoại di động Nokia 215 màu đen và 01 điện thoại Nokia E66, bị cáo sử dụng vào việc thực hiện tội phạm.

- Tịch thu lưu hồ sơ 03 tờ giấy ghi số đề ngày 21/12/2017 có chữ ký của Trương Thị Thanh H và 01 tờ giấy ghi số lô ngày 21/12/2017 có chữ ký của Bùi Đức Q là tang vật vụ án.

- Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 500.000 đồng là khoản thu lợi bất chính để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý về vật chứng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Đối với Bùi Đức Q là người mua số lô của H ngày 21/12/2017, số tiền Quyền đánh bạc là 115.000 đồng. Xét hành vi trên của Quyền chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an quận Long Biên đã ra Quyết định xử phạt hành chính theo khoản 1 Điều 26 Nghị định 167/NĐ-CP là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với các đối tượng Thắng là người nhận bảng lô, đề do H chuyển cũng như Tiến trọ, Huy trọ, Tít, Thanh Hà là các đối tượng mua lô, đề của H qua tin nhắn điện thoại di động, cơ quan điều tra đã lập biên bản xác minh xác định các số điện thoại các đối tượng trên đều là thuê bao trả trước nên không làm rõ được các đối tượng tham gia đánh bạc, vì vậy Cơ quan điều tra chưa có căn cứ để xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là có căn cứ.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trƣơng Thị Thanh H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”

1. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Trương Thị Thanh H số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 sổ kết quả.

- Tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng, 01 điện thoại di động Nokia 215 màu đen và 01 điện thoại Nokia E66.

(Toàn bộ số tang vật trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/3/2018 và giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 03/01/2018).

- Tịch thu lưu hồ sơ 03 tờ giấy ghi số đề ngày 21/12/2017 có chữ ký của Trương Thị Thanh H và 01 tờ giấy ghi số lô ngày 21/12/2017 có chữ ký của Bùi Đức Q (đã có trong hồ sơ vụ án).

- Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) là khoản thu lợi bất chính để sung vào Ngân sách Nhà nước.

3. Án phí : Áp dụng khoản 1 Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và C¨n cø Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngµy 30/12/2016 vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ