vanban.org

Bản án 66/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng Tuyên án 20/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tạ Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý tang vật: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,150 (không phẩy một trăm năm mươi) gam chất ma túy, loại methaphetamine và 03 cái bao nilong; tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tạ Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA VANG
TP. ĐÀ NẴNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2018/HS-ST
Ngày 20-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tán Nghị

Ông Nguyễn Văn Gạt

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Mai Sương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Pha - Kiểm sát viên.

Ngày 20/11/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 69/2018/TLST-HS ngày 05/11/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2018/QĐXXST-HS ngày 08/11/2018 đối với bị cáo Tạ Văn V, sinh ngày 20/03/1997 tại Đà Nẵng; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn L, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn H và bà Lê Thị Như A; bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có 3 anh em; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 01/8/2017, bị TAND huyện Hòa Vang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở xã hội Bầu bàng với thời hạn 14 tháng, tháng 4/2018 trở về địa phương; bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam từ ngày 21/9/2018, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Lê Thị Như A, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (có mặt).

- Ông Tạ Văn H, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (có mặt).

Người làm chứng: Ông Đặng T, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 21/9/2018, Tạ Văn V dùng xe mô tô, biển kiểm soát 43K1-364.59 đi từ thôn L, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng vào trước khu vực lò gạch thuộc xã Điện Tiến, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam gặp một thanh niên tên Vũ (không xác định được nhân thân) để mua ma túy đá về sử dụng. Khi gặp nhau, V đưa 200.000 đồng rồi Vũ ném gói ma túy xuống đất để V đến lấy. Sau đó, V cầm gói ma túy trên tay trái, kẹp vào tay cầm bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 43K1.364.59, điều khiển xe đi về lại Đà Nẵng. Khi về đến ngã tư Lệ Trạch thuộc xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng thì V gọi cho bạn tên Vượng (không xác định được nhân thân), hẹn đến địa điểm trước chùa Phước Thiện, thuộc thôn Lệ Sơn Bắc, xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang để sử dụng ma túy chung thì Vượng đồng ý.

Đến khoảng 18 giờ 40 phút, khi V đang đứng trước chùa Phước Thiện thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Hòa Vang bắt quả tang khi đang cầm gói ma túy đá trên tay trái, kẹp vào tay cầm xe mô tô 43K1-364.59.

Tang vật tạm giữ khi bắt quả tang gồm: 01 gói nilong chứa tinh thể màu trắng (V khai là ma túy đá); 01 điện thoại di động Oppo màu trắng bạc; 01 điện thoại di động Nokia màu đen; xe mô tô biển kiểm soát 43K1-364.59 và số tiền 1.800.000 đồng.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tạ Văn V tại thôn L, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng thu giữ được 03 vỏ bao nilông trong thùng xốp để ở trong phòng ngủ của V.

Tại kết luận giám định số 187/GĐ-MT ngày 26/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận tinh thể màu trắng trong 01 gói nilong được niêm phong thu giữ của Tạ Văn V gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu tinh thể là 0,348 gam.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô, biển kiểm soát 43K1-364.59 và 01 điện thoại di động Oppo màu trắng bạc. Qua điều tra xác định thuộc sở hữu của bà Lê Thị Như A, V sử dụng đi mua ma túy bà A không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà A; đối với chiếc điện thoại di động Nokia màu đen; chất ma túy, loại Methamphetamine, sau giám định còn lại 0,150 gam; 03 vỏ bao nilong và số tiền 1.800.000 đồng, Chi cục Thi hành án đang tạm giữ.

Tại bản cáo trạng số 65/CT-VKSND ngày 05/11/2018, VKSND huyện Hòa Vang đã truy tố Tạ Văn V về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù; về xử lý tang vật: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,150 gam ma túy loại methaphetamine và 03 vỏ bao nilong; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước một điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; tuyên trả lại cho bị cáo số tiền 1.800.000 đồng.

Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về xác định tội phạm:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 21/9/2018, tại khu vực trước chùa Phước Thiện, thuộc thôn Lệ Sơn Bắc, xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Hòa Vang bắt quả tang Tạ Văn V đang cầm trên tay trái một gói nilong, bên trong chứa tinh thể màu trắng. Qua giám định, Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng xác định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,348 gam. Nguồn gốc của chất ma túy là do Tạ Văn V mua của một thanh niên tên Vũ (không xác định được nhân thân, lai lịch), để sử dụng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Tạ Văn V đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, như bản cáo trạng số 65/CT-VKSND ngày 05/11/2018 của VKSND huyện Hòa Vang đã truy tố đối với bị cáo. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần thiết phải xử phạt bị cáo thỏa đáng để răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tạ Văn V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình có công với cách mạng, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về xử lý tang vật: Đối với 0,150 gam chất ma túy loại methaphetamine là chất Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy; đối với chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, Tạ Văn V sử dụng để liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; đối với số tiền 1.800.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo; đối với 03 vỏ bao nilông (02 cái của ông Tạ Văn H và 01 cái của Tạ Văn V), ông H và V xác định không có giá trị sử dụng và không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy; đối với xe mô tô, biển kiểm soát 43K1-364.59 và 01 điện thoại di động Oppo màu trắng bạc thuộc sở hữu của bà Lê Thị Như A, V sử dụng vào việc mua ma túy bà A không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà A là đúng pháp luật.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên và Kiểm sát viên đã được thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Tạ Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Văn V 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, bắt tạm giam, ngày 21/9/2018.

2. Về xử lý tang vật: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,150 (không phẩy một trăm năm mươi) gam chất ma túy, loại methaphetamine và 03 cái bao nilong; tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; tuyên trả lại cho bị cáo Tạ Văn V số tiền 1.800.000đ (Một triệu, tám trăm ngàn đồng).

(Các tang vật nêu trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Vang đang tạm giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/11/2018 giữa cơ quan Thi hành án và Công an huyện Hòa Vang ).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/11/2018).

Cỡ chữ