- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Q - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức Q, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2018/HS-PT Ngày: 01-8-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng
Các Thẩm phán: Ông Phạm Lâm Đồng
Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 01/8/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm, thụ lý số: 93/2018/TLPT-HS ngày 12/6/2018 đối với bị cáo Nguyễn Đức Q, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2018/HS-ST, ngày 11-4-2018 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Đức Q (tên gọi khác: A), sinh năm: 1995, tại Ô, Cần Thơ. Nơi cư trú: khu vực H, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1970 (đã chết vào tháng 7 năm 2018) và bà Lê Thị Ê, sinh năm: 1974(sống); có 02 người em (sinh năm 1997 và 2001) chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: chưa có án tích, chưa bị xử lý hành chính.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 30/9/2017, Nguyễn Đức Q cùng Võ Minh B, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thanh H1, tổ chức uống rượu tại trại nuôi cá của anh Phan Á N, thuộc ấp 1, xã H2, huyện C, thành phố Cần Thơ. Trong lúc uống rượu thì có Nguyễn Minh H3 đi ngang, do thấy có người qua lại nên 02 con chó trong trại nuôi cá, chạy theo sủa, anh H3 cầm 02 con chó lên rồi ném xuống đất, Q chạy ra cự cãi với anh H3, do bênh vực anh H3 nên anh B đã cự cãi với Q. Trong lúc cả hai đang đi trở vào trại nuôi cá thì Q nói “chém chết mẹ hết”, anh B nói “mày chém ai, dám chém không”. Q liền lấy cây dao tự chế, dài khoảng 80cm, lưỡi bằng kim loại, chém trúng vào vùng cổ của anh B gây thương tích, anh B được mọi người chở đi cấp cứu, Q ném dao xuống ao rồi trốn khỏi địa phương, đến ngày 29/11/2017, Q đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đầu thú. Cây dao Q dùng để chém anh B không thu hồi được.
Tại Bản kết luận giám định pháp y số 205/TgT ngày 16/11/2017 của Trung tâm pháp y trực thuộc Sở Y tế thành phố Cần Thơ, kết luận: Các dấu hiệu chính qua giám định: Vết thương phức tạp vùng cổ (P) phải, gây đứt một phần tĩnh mạch cảnh chung, đã được phẫu thuật khâu tĩnh mạch, khâu vết thương, thuốc. Hiện tại vết thương, vết mỗ đã lành, sẹo xấu gồ dính, vận động xoay cổ sang trái hạn chế nhẹ, ảnh hưởng thẩm mỹ và chức năng. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Võ Minh B hiện tại là 15%.
Quá trình điều tra, Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của những người làm chứng và những tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại thỏa thuận số tiền bồi thường thiệt hại như sau: Tiền thuốc, tiền ngày công lao động, tiền đi lại điều trị thương tích cho anh B là 30.000.000đồng. Tiền công nuôi bệnh cho chị Nguyễn Thị Mộng T2 (vợ của anh B) là 1.050.000đồng. Q đã giao 6.100.000đồng, số tiền còn lại sẽ tiếp tục thực hiện.
Tại bản án số 14/2018/HS-ST ngày 11- 4-2018 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 26/4/2018, bị cáo Nguyễn Đức Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm
Bị cáo trình bày hoàn cảnh không ở chung với mẹ từ nhỏ, cha vừa mới qua đời, hai em đi làm xa nên xin được giảm án để lo thờ cúng cho cha.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ của vụ án, chỉ vì bực tức khi tranh cải với bị hại, bị cáo đã dùng dao tự chế tấn công vào vùng cổ, làm tổn hại sức khỏe của bị hại đến 15% nên cần thiết áp dụng chế tài hình sự đối với bị cáo, nhằm giáo dục bị cáo ý thức tôn trọng sức khỏe của người khác và phòng ngừa chung trong xã hội. Mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên thấp hơn mức khởi điểm của khung hình phạt là rất khoan hồng, các lý do kháng cáo không phải là tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét đơn kháng cáo:
Bị cáo làm đơn kháng cáo đúng quy định về hình thức và thời hạn nên yêu cầu kháng cáo được xem xét theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
Xét nội dung kháng cáo:
Chỉ vì bất đồng trong lời nói với bị hại, bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng cổ của bị hại, đây là vùng trọng yếu của cơ thể người, khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe là rất lớn. Căn cứ vào giấy chứng nhận thương tích số 150/CN-BVĐKTP ngày 18/10/2017 của Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ ghi nhận thương tích của bị hại khi vào viện và Kết luận giám định số 205/TgT ngày 16/11/2017 của Trung tâm pháp y thành phố Cần Thơ, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 15% phù hợp với những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên việc truy tố, xét xử bị cáo về tội ‘”Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự 1999 là có cơ sở.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe người khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, nên cần thiết phải xử lý nghiêm, ngoài việc giáo dục đối với cá nhân bị cáo, còn đảm bảo đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, nên Cấp sơ thẩm áp dụng biện pháp cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội có thời hạn để cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội là phù hợp.
Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thuộc trường hợp nghiêm trọng, mục đích nhằm thỏa mãn sự bực tức của cá nhân, có xu hướng dùng bạo lực để thể hiện bản tính manh động, côn đồ, sau khi gây án, bị cáo vứt bỏ hung khí và rời khỏi hiện trường, bỏ mặc hậu quả thương tích của bị hại. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tuyên mức án thấp hơn mức khởi điểm của khung hình phạt truy tố là rất khoan hồng đối với bị cáo. Các lý do nêu trong đơn kháng cáo không phải là tình tiết mới. Lý lẽ của bị cáo cho rằng bản thân phạm tội trong hoàn cảnh không điều khiển được hành vi khi bị xúc phạm, bị thách thức là không đúng với sự thật khách quan của vụ án. Thực tế bản thân bị cáo có lời lẽ khiếm nhã trước, bị cáo cần phải nhận thức đúng về hành vi phạm tội của mình là thuộc trường hợp nghiêm trọng có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù nên không có căn cứ cho rằng mức án của cấp sơ thẩm đối với bị cáo là quá nặng, nên yêu cầu kháng cáo không có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức Q, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Áp dụng: khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự 1999.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đức Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Các phần khác của bản án hình sự sơ thẩm số 14/2018/HS-ST ngày 11-4-2018 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng)
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND CC tại TP. Hồ Chí Minh; - VKSND TPCT; - Sở Tư pháp TP. Cần Thơ; - Trại tạm giam; - Cơ quan tố tụng huyện Cờ Đỏ; - Bị cáo; - Lưu. | Đã ký Nguyễn Thị Kim Phượng |