vanban.org

Bản án 66/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228, Điều 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyế…

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Kim M và ông Huỳnh Văn T. Con chung: bà Mai và ông Thi thống nhất có 01 (một) con chung tên Huỳnh Văn Tuyền, sinh ngày 09 tháng 02 năm 1992, hiện nay con chung đã trưởng thành. Bà Mai và ông Thi không yêu cầu Tòa án giải quyết … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim M ly hôn với Huỳnh Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228, Điều 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyế…
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 11-12-2018.
V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Mỹ Như

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Vệ.

2. Bà Nguyễn Kim Phụng.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Kim Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Trinh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29 tháng 11 và ngày 11 tháng 12 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 284/2018/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2018, về tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 300/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim M, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Số nhà A, tổ B, ấp C, xã D, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn: Huỳnh Văn T, sinh năm 1969.

Địa chỉ: Số nhà A, tổ B, ấp C, xã D, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

(Bà Mai có mặt, ông Thi vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/7/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Kim M trình bày:

Quan hệ hôn nhân: Bà Mai và ông Thi kết hôn vào năm 1990, không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Năm 2011, ông Thi thường xuyên đi uống rượu, có hành vi bạo lực với bà Mai. Ông Thi tự ý bỏ nhà đi nơi khác sống để nhà cửa vườn đất cho bà Mai sử dụng. Vợ chồng sống ly thân được 03 năm, đến năm 2014 ông Thi trở về, mặc dù ông Thi trở lại sống chung với bà Mai nhưng tính tình ông Thi không thay đổi, ông Thi có hành vi đập phá đồ đạc trong nhà và đánh bà Mai đã bị Công an xã Tân Thuận Đông lập biên bản nhiều lần. Ngày 22/6/2018 ông Thi chửi mắng, đánh đập và hăm doạ, nên ban ngày bà Mai làm vườn, ban đêm bà Mai ngủ nhờ nhà bà con. Hiện nay, bà Mai và ông Thi đã ly thân. Tình cảm vợ chồng không còn, bà Mai yêu cầu ly hôn với ông Thi. Bà Mai không yêu cầu xử lý hành vi đánh đập của ông Thi.

Con chung: Bà Mai và ông Thi có 01 con chung tên Huỳnh Văn Tuyền, sinh ngày 09 tháng 02 năm 1992. Hiện nay con chung đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tài sản chung: Bà Mai và ông Thi tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Tại biên bản làm việc ngày 11/9/2018, ông Huỳnh Văn T trình bày:

Quan hệ hôn nhân: Ông Thi và bà Mai chung sống với nhau năm 1990, không nhớ có đăng ký kết hôn hay không, chỉ nhớ là ông Thi và bà Mai có đến Ủy ban nhân dân xã nhưng không biết để làm gì. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, ông Thi bỏ nhà đi là đi làm ăn. Đến năm 2018, do làm ăn thua lỗ nên ông Thi có yêu cầu bà Mai giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà Mai không đồng ý nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Ông Thi thừa nhận có hành vi uống rượu, đập phá đồ đạc trong nhà nhưng không có đánh bà Mai. Ông Thi cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Mai.

Con chung: Ông Thi và bà Mai có 01 con chung tên Huỳnh Văn Tuyền, sinh ngày 09 tháng 02 năm 1992. Hiện nay con chung đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tài sản chung: Ông Thi và bà Mai tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

- Về nội dung: Bà Mai yêu cầu ly hôn với ông Thi nhưng bà Mai và ông Thi chung sống không có đăng ký kết hôn nên căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Kim M và ông Huỳnh Văn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim M và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, bị đơn có địa chỉ tại xã Tân Thuận Đông, thành phố Cao Lãnh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập cho ông Thi nhưng ông Thi không có mặt tại phiên tòa, bà Mai đồng ý việc xét xử vắng mặt ông Thi tại phiên tòa theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Huỳnh Văn T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan hệ hôn nhân: Bà Mai và ông Thi chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1990 là có thật, được các đương sự thừa nhận. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, bà Mai và ông Thi phát sinh mâu thuẫn và hiện tại bà Mai và ông Thi không còn chung sống với nhau. Bà Mai yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn T và ông Thi cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Mai.

Xét yêu cầu của bà Mai yêu cầu ly hôn với ông Thi, Hội đồng xét xử xét thấy, bà Mai và ông Thi không xác định rõ là trong thời gian chung sống, bà Mai và ông Thi có đăng ký kết hôn hay không, đồng thời các đương sự cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh cho việc đăng ký kết hôn theo quy định. Tại văn bản số 82/UBND ngày 22/10/2018 của Ủy ban nhân dân xã Tân Thuận Đông xác nhận qua kiểm tra hồ sơ lưu trữ sổ đăng ký kết hôn hiện tại không có tên ông Huỳnh Văn T và bà Nguyễn Thị Kim M. Đồng thời tại văn bản số 418/UBND – TP ngày 18/10/2018 của Ủy ban nhân dân xã Tân Thuận Tây xác nhận “….Qua kiểm tra sổ bộ hộ tịch, từ năm 1989 đến năm 1994, bà Nguyễn Thị Kim M không có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thuận Tây, thành phố Cao Lãnh”. Tại phiên tòa hôm nay, bà Mai cũng thừa nhận là bà Mai và ông Thi chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn. Như vậy, bà Mai và ông Thi chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không tuân thủ về đăng ký kết hôn mà Luật Hôn nhân và gia đình đã quy định, nên hôn nhân của bà Mai và ông Thi không phải là hôn nhân hợp pháp, không được pháp luật công nhận là vợ chồng, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình, đồng thời căn cứ vào khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Kim M và ông Huỳnh Văn T.

Xét đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh là có căn cứ, nên chấp nhận.

Con chung: bà Mai và ông Thi thống nhất có 01 (một) con chung tên Huỳnh Văn Tuyền, sinh ngày 09 tháng 02 năm 1992, hiện nay con chung đã trưởng thành. Bà Mai và ông Thi không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tài sản chung: bà Mai và ông Thi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nợ chung: Không có.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Mai phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Ông Huỳnh Văn T không phải chịu tiền án phí sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228, Điều 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Kim M và ông Huỳnh Văn T.

- Con chung: bà Mai và ông Thi thống nhất có 01 (một) con chung tên Huỳnh Văn Tuyền, sinh ngày 09 tháng 02 năm 1992, hiện nay con chung đã trưởng thành. Bà Mai và ông Thi không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Tài sản chung: bà Mai và ông Thi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Nợ chung: Không có.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng bà Mai đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002105 ngày 17 tháng 7 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh. Bà Mai đã nộp xong tiền án phí.

Ông Huỳnh Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình.

Bà Nguyễn Thị Kim M có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Huỳnh Văn T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

- Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 - Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Tỉnh;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- Đương sự;

- VKSND TPCL;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Phạm Mỹ Như HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH

THẨM PHÁN

(Đã ký)

Huỳnh Thị Thơm

“Để thi hành”

TP. Cao Lãnh, ngày 00 tháng 00 năm 2017

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH Nơi nhận:

THẨM PHÁN

- THADS TP CL;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Huỳnh Thị Thơm

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ