- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận Trương Thị M và Nguyễn Tấn K là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2018/HNGĐ-ST Ngày: 01-10-2018 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Út.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Văn Hai;
Ông Nguyễn Chí Công.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Phát Đạt là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 01 tháng 10 năm 2018 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2018/TLST-HNGĐ, ngày 13/7/2018 “V/v Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trương Thị M - Sinh năm: 1979. (Có mặt)
Địa chỉ: 165B/3 ấp HB, xã LT, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Nguyễn Tấn K - Sinh năm: 1976. (Có mặt)
Địa chỉ: 165B/3 ấp HB, xã LT, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 03/7/2018, tại phiên hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn Trương Thị M trình bày: Nguyên chúng chị M và anh K được cha mẹ hai bên tác hợp vào năm 1995 không có đăng ký kết hôn. Sau hôn nhân chúng vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2006 do cuộc sống gia đình khó khăn nên chị M đi thành phố Hồ Chí Minh làm thuê, lâu lâu về thăm gia đình. Cuộc sống vợ chồng vì xa nhau nên tình cảm ngày càng phai nhạt, mỗi người tự sống theo ý mình, ly thân với nhau từ năm 2008 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn ý nghĩa nên chị M làm đơn này yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Tấn K; Về con chung Có 01 con chung là Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 30/7/1997 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết; Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa bị đơn Nguyễn Tấn K trình bày: Lời trình bày của Trương Thị M là đúng sự thật. Vào năm 1995 được sự cho phép của gia đình hai bên, anh K và Trương Thị M cưới nhau và không đăng ký kết hôn. Thời gian sống chung vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nên hai bên không tự giải quyết được. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được. Nên anh K đồng ý ly hôn với Trương Thị M; Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 30/7/1997 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết; Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hôn nhân: Trương Thị M và Nguyễn Tấn K sống chung như vợ chồng vào năm 1995 đến nay không đăng ký kết hôn. Thời gian sống chung rất hạnh phúc đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, vợ chồng lạnh nhạt thậm chí không ai quan tâm đến ai. Điều đó làm cho tình cảm vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Trương Thị M và Nguyễn Tấn K sống chung nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, nên không công nhận là vợ chồng đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9 Luật HN&GĐ cụ thể quy định như sau “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý…”.
Tại khoản 1 Điều 14 Luật HN&GĐ có quy định “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này…”.
Đối chiếu khoản 2 Điều 53 Luật HN&GĐ có ghi “…Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này…”.
Vì vậy về quan hệ hôn nhân của Trương Thị M và Nguyễn Tấn K là không công nhận quan hệ vợ chồng.
[2] Về con chung: Trương Thị M và Nguyễn Tấn K có 01 con chung là Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 30/7/1997 đã thành niên mà Trương Thị M và Nguyễn Tấn K không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt thành vấn đề xem xét giải quyết.
[3] Về tài sản và nợ chung: Trương Thị M và Nguyễn Tấn K không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Nguyên đơn Trương Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là có căn cứ, phù hợp với khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 9; Khoản 1 Điều 14; Khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận Trương Thị M và Nguyễn Tấn K là vợ chồng.
2. Án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm: Trương Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000đ, nhưng được khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001309 ngày 13/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Trương Thị M đã thực hiện xong).
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/10/2018).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh ĐT;
- VKSND huyện LV;
- CCTHADS huyện LV;
Đã ký
- Các đương sự;
- Lưu HS, AV.
Nguyễn Văn Út TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN LAI VUNG
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH ĐỒNG THÁP
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào lúc 09 giờ 00 phút, ngày 01/3/2018.
Tại phòng nghị án trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Út.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Đặng Văn Hai.
Ông: Nguyễn Chí Công.
Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 363/2017/TLST-HNGĐ, ngày 05/12/2017 “V/v tranh chấp về hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con”, giữa:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Bỉ - Sinh năm: 1984. (có mặt)
Địa chỉ: 225/6, ấp Tân Mỹ, xã Tân Phước, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Nguyễn Văn Họ - Sinh năm: 1979. (vắng mặt)
Địa chỉ: 25/TL, ấp Tân Long, xã Hòa Thành, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật:
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
I. Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử thống nhất 100%.
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Nguyễn Thị Bỉ được ly hôn với Nguyễn Văn Họ.
II. Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử thống nhất 100%.
Về con chung và cấp dưỡng: Nguyễn Văn Họ được quyền tiếp tục nuôi con là Nguyễn Văn Họ Phát, sinh ngày 11/10/2002, Nguyễn Văn Họ Minh, sinh ngày 10/9/2004; Nguyễn Thị Bỉ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
III. Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử thống nhất 100%.
23Về án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm: Nguyễn Thị Bỉ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân là 300.000 đồng. Được khấu trừ 300.000 đồng mà Nguyễn Thị Bỉ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số: 00852, ngày 05/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Nguyễn Thị Bỉ đã nộp xong).
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/3/2018). Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án này được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 00 phút, ngày 01 tháng 3 năm 2018.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA 1/ 2/
Nguyễn Văn Út
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND huyện LV; - CCTHADS huyện LV; - Các đương sự; - Lưu HS, AV. | THẢM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Út |